- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Minh D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoành Đại
Ông Hoàng Ngọc Năm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh, Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa( cơ sở 2)xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Hoằng L, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1991. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Hoằng L, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/7/2025, bản tự khai ngày 15/8/2025, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H thể hiện:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020 được UBND xã Hoằng Lưu, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Hà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
Về con: Chị Nguyễn Minh D và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân các cháu ở với chị H. Ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng. Hiện nay chị H là lao động tự do mức thu nhập của chị mỗi tháng 15triệu đồng; Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Hóa: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông Nguyễn Văn Hóa (bố đẻ anh D) và ông Hóa cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho anh D.
Tại lời khai của ông Nguyễn Văn Hóa thể hiện:
Anh Nguyễn Minh D và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng L, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2020. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường, không có va chạm gì. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh D, anh D đề nghị vợ chồng đoàn tụ để nuôi con. Tôi( Hóa) có trách nhiệm thông báo cho anh D khi anh đi làm về( anh D cũng đã biết việc chị H làm đơn xin ly hôn anh), ông Hóa cam đoan giao tận tay cho anh D những văn bản tố tụng của Tòa án.
Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2022. Nay ly hôn nguyện vọng anh D đoàn tụ nên không yêu cầu giải quyết về con. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,71 của BLTTDS. Bị đơn anh Nguyễn Minh D chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Minh D.
Về con chung: Công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2022. Nay ly hôn, chị Hà có nguyện vọng nuôi con. Hiện nay chị làm lao động tự do mức thu thập của chị mỗi tháng 15triệu đồng.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chị Nguyễn Thị Hà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Minh D và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn, anh Nguyễn Minh D là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Minh D có địa chỉ tại xã Hoằng L, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Minh D và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương xã Hoằng L xác nhận: Chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Minh D tự nguyện kết hôn được UBND xã H. L cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2020, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vợ chồng anh chị có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2022.
Tại phiên tòa ngày 23/9/2025, bị đơn anh Nguyễn Minh D vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh D vắng mặt không có lý do, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D kết hôn với nhau năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng L, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng anh chị sống với nhau hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng xin được ly hôn anh D. Anh D mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không đến làm việc theo giấy triệu tập thể hiện anh bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và chị H không có mong muốn đoàn tụ. Do đó, HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh D là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.
Về con chung: Anh Nguyễn Minh D và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2022.
Xét yêu cầu nuôi con của chị Nguyễn Thị H: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của chị H là phù hợp vì từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Lan Anh và cháu Anh Thư ở cùng với chị H, chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, không nên sáo trộn cuộc sống sinh hoạt của các cháu nên tiếp tục giao cháu Lan Anh và cháu Anh Thư cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51,56,57,58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Minh D.
Về con chung: Công nhận cháu Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 28/02/2020; Nguyễn Kiều Anh Thư, sinh ngày 28/10/2020 là con chung của anh Nguyễn Minh D và chị Nguyễn Thị H.
Giao cháu Nguyễn Lan Anh và cháu Nguyễn Kiều Anh Thư cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật.
Anh Nguyễn Minh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Chị H và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu anh D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh D.
Về án phí: Anh Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000262 ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa( nay là Chi cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa). Chị H đã nộp đủ số tiền án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Nguyễn Minh D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa; - Chi cục THA tỉnh Thanh Hóa; -UBND xã Hoằng L; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương |