- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Võ Văn D "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Võ Văn D là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2025. V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhiêu Phong;
2. Ông Nguyễn Thanh Phiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Vĩ Khang, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Hồ Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Võ Văn D, sinh năm 1971; có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ 19, ấp T, xã L, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Võ Văn D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994, không có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn tài chính, thường cãi vả, gây gỗ nhau, thậm chí anh D dùng bạo lực với chị. Từ đó chị và anh Dung không nói chuyện, quan tâm lẫn nhau cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.
Về con chung: có 02 con chung tên Võ Hoàng L1, sinh năm 1995 và Võ Tấn L2, sinh năm 2002. Hiện các con đều đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23 tháng 7 năm 2025, bị đơn anh Võ Văn D trình bày:
Anh D trình bày thống nhất với chị H về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh xác định giữa anh và chị H không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì không biết quy định của pháp luật và cũng không nghe chính quyền địa phương thông báo việc phải đăng ký kết hôn. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2025 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị Hiếu thường hay tới lui các tụ điểm hát với nhau nên anh không hài lòng dẫn đến có cãi vả với chị H. Từ đó anh và chị H không nói chuyện, quan tâm lẫn nhau cho đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống chung không thể hàn gắn được nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh thống nhất với ý kiến của chị H.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh D. Về con chung: các cháu L1 và L2 đã trưởng thành nên không đặt ra yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: đương sự chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn D, anh D có địa chỉ cư trú tại xã L, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
Chị H, anh D đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Văn D tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 1994. Mặc dù đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chị H, anh D vẫn không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh D không được pháp luật thừa nhận, bảo vệ; không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Võ Văn D là vợ chồng.
Về con chung: ghi nhận các cháu Võ Hoàng L1, sinh năm 1995 và Võ Tấn L2, sinh năm 2002, đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 53, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Võ Văn D là vợ chồng.
Về con chung: các cháu Võ Hoàng L1, sinh năm 1995 và Võ Tấn L2, sinh năm 2002, đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005596 ngày 17-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng THADS khu vực 11).
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND KV11; - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ; tập án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Trúc Linh |