- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: H'Ngăng EEban - BĐ: Y Yô Rim KBuôr"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà H Ng Ê.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HNGĐ – ST Ngày 11/9/2025. V/v: Xin ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Y Kam Ênuôl
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Chính
2. Ông Nguyễn Hoàng Diệu
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đăk Lăk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại Toà án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXX – HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà H Ng Ê, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số nhà C Buôn P, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Y Y R K, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Buôn K, phường T, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nguyên đơn bà H Ng Ê trình bày: Tôi và anh Y Y R Kcó chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 26/7/2016, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến hôn nhân hai vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2023 cho đến nay hai vợ chồng tôi đã sống ly thân mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hiện nay, giữa chúng tôi không còn tình cảm với nhau, do đó không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk cho tôi được ly hôn với anh anh Y Y R K.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 01 con chung là cháu H Ánh Ê1, sinh ngày 21/02/2013. Hiện nay cháu H Á Ê đang ở với bố, vì vậy sau khi ly hôn tôi đồng ý giao cháu H Á Ê cho anh Y Y R được trực tiếp chăm sóc đến tuổi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Y Y R K mặc dù đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như phía đương sự chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà H Ng Ê.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà H Ng Ê được ly hôn với ông Y Y R K.
- Về con chung: Giao cháu H Á Ê – sinh ngày 21/02/2013 cho ông Y Y R K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Ông Y Y R K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai có quyền được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy bị đơn – ông Y Y R K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhưng đều vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn ông Y Y R K tại phiên tòa: Ông Y Y R K đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và vắng mặt lần 2 tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk xét xử vắng mặt ông Y Y R K.
. Về nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định giữa bà H Ng Ê và ông Y Y R K có chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 26/7/2016, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến hôn nhân hai vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2023 cho đến nay hai vợ chồng tôi đã sống ly thân mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hiện nay, giữa bà H Ng Ê và ông Y Y R K không còn tình cảm với nhau, do đó không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, bà H Ng yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk cho bà được ly hôn với ông Y Y R K. Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 01 con chung là cháu H Á Ê, sinh ngày 21/02/2013. Hiện nay cháu H Á Ê đang ở với bố, nên sau khi ly hôn bà H Ng đồng ý giao cháu H Á Ê cho anh Y Y R được trực tiếp chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3.1. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà H Ng Ê và ông Y Y R K có xảy ra trên thực tế và đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình làm việc với Tòa án bà H N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Y Y R K. Ngoài ra, hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân, ông Y Y R K đã bỏ về nhà bố mẹ tại địa chỉ Buôn K, phường T, tỉnh Đắk Lắk sinh sống mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương nơi đương sự cư trú thì thấy rằng: Trong cuộc sống hằng ngày giữa bà H Ng Ê và ông Y Y R K có phát sinh mâu thuẫn, ông Y Y R đã bỏ về nhà bố mẹ tại Buôn K, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Về nguyên nhân mâu thuẫn do không hòa giải ở cơ sở nên địa phương không nắm rõ được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H Ng và ông Y Y R đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà H Ng đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk cho bà được ly hôn với ông Y Y R K là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau giữa bà H Ng Ê và ông Y Y R K có 01 con chung là cháu H Á Ê – Sinh ngày 21/02/2013. Từ khi ly thân cho đến nay cháu H Á do ông Y Y R là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bản thân bà H Ng đồng ý giao cháu H Á cho ông Y Y R K được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bình thường, tránh ảnh hưởng đến tâm lý của cháu nên cần giao cháu H Á Ê cho ông Y Y R K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Bà H Ng Ê được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai có quyền được cản trở.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Bà H Ng Ê phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà H Ng Ê.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà H Ng Ê được ly hôn với ông Y Y R K.
1.2. Về con chung: Giao cháu H Ánh Êban – sinh ngày 21/02/2013 cho ông Y Y R K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Ông Y Y R K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai có quyền được cản trở.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải giải quyết.
Về án phí: Bà H Ng Ê phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001234 ngày 10/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1).
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. BMT; - Chi cục THADS Tp.BMT; - Các đương sự; - ………………; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Kam Ênuôl |