- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Th L Th"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƢ̣C 12 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42 /2025/DS-ST Ngày 23 /09 /2025 V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƢ̣C 12 - ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầ n Văn Xuyế n.
- Hội thẩm nhân dân: [1]. Bà Võ Thị Ngọc; [2]. Bà Trần Thị Chín;
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – là Thư ký Tòa án nhân dân khu vự c 12 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vƣ̣c 12 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 09 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vự c 12 - Đồng Nai, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/ DS- ST, ngày 21 tháng 04 năm 2025, về việ c "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐST-DS, ngày 11 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự: Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Lệ Th; sinh năm 1977 ( có mặt ) Địa chỉ: Thôn 2, xã d, huyện b, tỉnh Bình Phước. Nay thuộ c: Thôn 2, xã n, tỉnh Đồng Nai. Bị đơn: Phạm Thị Thùy L, sinh năm 1989 ( vắng mặt ) Địa chỉ: Thôn 4, xã b, huyện b, tỉnh Bình Phước. Nay thuộ c: Thôn 8, xã bo, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn Nguyễn Thị Lệ Th trình bày:
Ngày 11/9/2023 tôi Nguyễn Thị Lệ Th có giao cho bà Phạm Thị Thuỳ Linh số tiền 100.000.000đồng. Lý do đưa số tiền này là vợ chồng Linh có cam kết bảo đảm sẽ lấy được nợ cho tôi từ ông Lưu Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Cẩm Tú đang nợ tôi , vợ chồ ng Linh tạm ứng trước số tiền 100.000.000đ. Tôi đồ ng ý và đưa tiề n cho vợ chồ ng Linh , còn vợ chồng Linh có đưa tiề n cho ai hay không tôi không biế t. Tôi không ủ y quyề n cho công ty nào để lấy nợ , tôi không biế t gì hế t . Từ khi nhậ n tiền này thì bà Phạm Thị Thuỳ Linh không có bất kỳ động thái nào đi lấy nợ cho tôi, buộ c tôi phả i khở i kiệ n ông L ưu Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Cẩm Tú ra Tò a á n để Tòa án giải quyết, sau đó tôi đòi lại tiền đã giao cho bà Linh thì bà Linh không trả.
Ngoài ra vào n gày 18/9/2023 tôi cho bà Phạm Thì Thuỳ Linh vay số tiền 200.000.000 đồng, khi vay có giấy tờ viết tay, thỏa thuận thời hạn vay là 3 tháng ( hạn trả 18/12/2023) bà Linh phải trả cho tôi số tiền đã vay nhưng cho đến nay cả 2 khoản tiền trên mà bà Linh chưa trả. Tôi liên hệ thì bà Linh trồn tránh.
Vì vậy y êu cầu bà Phạm Thị Thuy Linh trả cho tôi tổ ng số tiền vay gốc là 300.000.000 đồng và lãi suất trong hạn là 3 tháng x 1%/ 1 tháng, số tiền 9.000.000 đồng; Lãi quá hạn từ 19/12/2023 cho đến khi Tòa xét xử sơ thẩm thời gian khoảng 18 tháng x 1,6%/tháng với số tiền là: 76.800.000 đồng.
Tổng cả gốc và lãi mà tôi yêu cầu bà Phạm Thị Thuỳ Linh phải trả là 385.800.000 đồng.
Về khoả n tiề n đườ ng đi lấ y nợ 100.000.000đ, tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu này.
Bị đơn Phạm Thị Thùy L trình bày: Ngày 11/9/2023 tôi có ký giấ y nhậ n tiề n từ chị Thủy số tiề n 100.000.000đ là đúng, nhưng đây không phả i là tiề n vay , mà là tiền đi lấy nợ (trong giấ y có ghi tiề n đườ ng) cụ thể như sau : Bà Thủy bán nợ cho Công ty lấ y nợ Trầ n Hùng ở Đồng Xoài , sau đó tôi có nhậ n hộ (dùm) cho công ty tiề n từ bà Thủ y , sau đó bà Thủy và công ty đã thỏ a thuậ n bà Th ủy ủy quyền cho công ty để lấ y nợ theo yêu cầ u củ a bà Thủy, tiề n nà y vợ chồ ng tôi ( chồ ng tôi Nguyễ n Văn Thà nh - đã chế t) cụ thể là chồng tôi đã đưa cho chủ công ty, vì vậy tôi cho rằng tôi không nợ bà Thủy . Tôi không biế t địa chỉ công ty lấy nợ, chủ công ty là ai.
Đối với số tiền vay 200.000.000đ là đú ng, cứ 5 ngày trả lãi một lần , mỗ i lầ n trả lã i là 2.000.000đ, anh Thà nh có trả đượ c số tiề n 5.000.000đ tiề n lã i thông qua tà i khoả n củ a anh Thành, tại Ngân hàng nông nghiệp , khoảng thời gian tháng 10 tháng 11 năm 2023. Ngoài ra tôi có trả đượ c 1 lầ n là 2.000.000đ, khi không có tiề n trả tiế p thì chị Thủ y đò i lạ i tiề n gố c và khở i kiệ n ra tò a.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vự c 12 tham gia phiên tò a phát biểu quan điểm khẳng định: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đủ trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tố tụng của các đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét thấy: [1]. Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định. [2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp về " Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại xã Bom Bo, tỉnh Đồ ng Nai, căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vự c 12 - Đồng Nai. [3]. Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn xét thấy:
Đối với số tiền vay 200.000.000đ vào ngày 18/9/2023, thờ i hạ n vay 3 tháng, bị đơn thừ a nhậ n là đú ng và đã trả lãi 7.000.000đ, nguyên đơn thừ a nhậ n bị đơn đã trả
lãi 7.000.000đ, là 1 tháng, nay nguyên đơn yêu cầ u bị đơn trả số tiề n vay gố c 200.000.000đ.
Như vậy đã quá thờ i hạn trả nợ nhưng bị đơn vẫn chưa trả nợ c ho nguyên đơn, quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm, vì vậy cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vay gố c 200.000.000đ.
Về tiề n lã i: Trong giấ y mượ n tiề n không thể hiệ n về lã i suấ t , nhưng cá c bên có thừ a nhậ n vay có lã i, bị đơn cho rằng cứ 5 ngày trả lãi một lần là 2.000.000đ (6%/1 tháng).
Nay nguyên đơn yêu cầ u tí nh lãi trong hạn từ ngày 18/10/2023 đến ngày 18/12/2023 là 2 tháng: 200.000.000đ x 1%/1 tháng x 2 tháng = 4.000.000đ.
Lãi quá hạn nguyên đơn yêu cầ u mứ c lã i
1,6%/1tháng, từ ngà y tiế p theo là 19/12/2023 đến nay 23/09/2025 là 21 tháng 04 ngày, là phù hợp quy định pháp luật và tính như sau: 200.000.000đ x 1,6 %/1 tháng x 21 tháng 4 ngày = 67.626.666đ. Tổ ng tiề n lã i 71.626.666đ. Tổ ng cộ ng số tiề n gố c và lã i 271.626.666đ, bị đơn chị Phạm Thị Thùy L có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Lệ Th. Về khoả n tiề n 100.000.000đ là tiền đườ ng đi lấ y nợ , tại phiên tò a nguyên đơn rú t yêu cầ u này nên Hộ i đồ ng xé t xử ghi nhậ n. [4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn chị Phạm Thị Thùy L phải nộp án phí theo luậ t đị nh , số tiền án phí là 13.581.333đ. Thi hà nh án dân sự tỉ nh Đồ ng Nai hoàn trả lại cho nguyên đơ n bà Nguyễn Thị Lệ Th số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.645.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009733 ngày 21/04/2025.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điề u 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí của Toà án; [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Phạm Thị Thùy L phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ Th số tiền vay gốc 200.000.000đ.Tiề n lãi 71.626.666đ. Tổ ng cộ ng số tiề n gố c và lã i 271.626.666đ. [2].Về khoả n tiề n 100.000.000đ tiề n đườ ng đi lấ y nợ , tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu này nên hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này . Đương sự có quyề n khở i kiệ n lạ i theo quy đị nh phá p luậ t. [3]. Về án phí: Buộc bị đơn Phạm Thị Thùy L nộp số tiền án phí DSST là 13.581.333đ. Thi hà nh á n dân sự tỉ nh Đồ ng Nai hoàn trả lại cho nguyên đơ n bà Nguyễn Thị Lệ Th số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.645.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009733 ngày 21/04/2025.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ; - VKS ND ; - THA DS; - Đương sự; - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Xuyến |