- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HSST Ngày 25/03/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Phương
Ông Nguyễn Hà
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2024, Tòa án nhân dân quận BĐ - thành phố HN tiến hành xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại Phòng xét xử trực tuyến tại Điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân thành phố HN và Điểm cầu thành phần tại Trại giam số 1 – Công an thành phố HN, vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/HSST-QĐ ngày 08/03/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Trung D, sinh năm: 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 3 thị trấn SS, huyện SS, thành phố HN; Nơi ở: số 6 ngõ 92 NKT, phường QH, quận CG, thành phố HN; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ tên bố: Nguyễn Quang C, sinh năm: 1954; Họ tên mẹ: Dương Thị T, sinh năm: 1954; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị P– sinh năm: 1983; bị cáo có 01 con sinh năm 2011; Danh chỉ bản 406 lập ngày 28/11/2023 tại Công an quận BĐ.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: 01 tiền án đã được xóa án tích,
Bản án số 67/HSST ngày 26/08/1998, Tòa án nhân dân huyện SS xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội gây rối trật tự công cộng. Nộp án phí ngày 30/11/1998;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974; Nơi thường trú: PT 1, KĐ, KT, HD.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00’ ngày 21/11/2023, Tổ công tác Công an Y2/141 - Công an thành phố HN tuần tra tại đường CG, khi đi đến khu vực tại trước cổng công viên TL, phường NK, BĐ, HN phát hiện Nguyễn Trung D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của D có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (Nghi là ma túy). Tại chỗ, D khai nhận đó là ma túy Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa D cùng tang vật về trụ sở công an phường NK để làm rõ.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Trung D.
- 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone XR, số sim: 0967605280; IMEI: 356447106563466.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 34D1-06059.
Tại Bản kết luận giám định số 7855 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng, khối lượng 0,104 gam là ma túy loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trung D khai nhận: Bản thân thường xuyên sử dụng ma túy, khoảng 22h15’ ngày 21/11/2023, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo mang BKS: 34D1- 06059 đi từ khu vực phố QH, CG, HN đến khu vực ngõ 87 LH, phường TC, BĐ, HN để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cầm gói Heroine vào trong lòng bàn tay trái rồi lái xe máy một mình đi tìm nơi để sử dụng. Khi D đi đến khu vực trước cổng công viên TL, phường NK, BĐ, HN thì bị tổ công tác Y2/141 - Công an thành phố HN kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Nouvo, BKS:34D1-06059, số khung: RLCN5P110BY413401, số máy: 5P11413406: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H. Tại cơ quan điều tra, ông H trình bày: Chiếc xe máy trên do anh H đăng ký sử dụng, H đã mất đăng ký xe vào năm 2023. Sau đó, ông H cho Nguyễn Trung D mượn để làm phương tiện đi lại. Ông H không biết D sử dụng xe để đi mua ma túy. Chiếc xe máy trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận BĐ chờ quyết định xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho D, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 23/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy“ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo khai do bản thân nghiện ma tuý nên đã vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D từ 16 (Mười sáu) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,104 gam; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, đã qua sử dụng, số sim 0967605280; số imei: 356447106563466 đã cũ. Trả cho anh Nguyễn Văn H chiếc xe mô tô Yamaha Nouvo, BKS: 34D1-06059, số khung: RLCN5P110BY413401, số máy: 5P11413406.
Bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận BĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận BĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung D không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/11/2023, tại khu vực trước cổng công viên TL, phường NK, BĐ, HN, Nguyễn Trung D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,104gam chất ma túy loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Y2 141 - Công an thành phố HN phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Trung D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, bị cáo là đối tượng nghiện hút mặc dù biết rõ tác hại của ma túy, nH vẫn vi phạm pháp luật do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 0,104 gam ma túy heroine, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, số sim 0967605280; số imei: 356447106563466 đã cũ
Xét, ông Nguyễn Văn H không biết việc Nguyễn Trung D mượn xe máy Yamaha Nouvo, BKS: 34D1-060.59 để sử dụng đi mua ma túy và có đơn đề nghị được nhận lại chiếc xe trên nên thấy cần trả lại cho ông Nguyễn Văn H 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 34D1-060.59, số khung: RLCN5P110BY413401, số máy: 5P11413406.
. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Trung D 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 0,104 gam ma túy heroine, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, số sim 0967605280; số imei: 356447106563466 đã cũ
Trả cho ông Nguyễn Văn H 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 34D1-060.59, số khung: RLCN5P110BY413401, số máy: 5P11413406.
Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận BĐ theo Biên bản bàn giao vật chứng số 102 ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận BĐ
4. Về án phí :
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND quận Ba Đình; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoài Phương |