- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đi…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bảnán số: 42/2024/HSST Ngày: 02/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết Thắng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 02/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 15/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 20/3/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 26/11/2002; Nơi sinh: tỉnh Sơn La. HKTT, nơi ở: BK, xã CK, huyện QN, tỉnh SL; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lò Văn T1 và bà Lò Thị H . Có vợ Lò Thị M và 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện huyện QN, tỉnh SL xử phạt 08 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. T chấp hành xong bản án ngày 04/12/2019 (đã được xóa án tích).
T bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 29/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đình S, sinh năm 1993(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn GL, xã LC, huyện G, tp HN
- Anh Trịnh Quang P, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 14, xã NT, huyện VG, tỉnh HY
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 26/12/2023, Công an xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang tiến hành kiểm tra tại đường Sao Biển, khu đô thị sinh thái Dream City, thuộc xã Nghĩa Trụ; phát hiện bắt quả tang Lò Văn T, sinh năm 2002, nơi thường trú: BK, xã CK, huyện QN, tỉnh SL đang có hành vi cất giấu ma túy trên người; thu tại lòng bàn tay phải của T 01 gói giấy màu trắng, kích thước (3,5x2)cm, bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột; 01 gói giấy màu trắng, kích thước (5,6 x 2,5)cm, cuốn bên ngoài bằng băng dính mầu đen, bên trong có 11 gói giấy màu trắng, có kích thước khác nhau, trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Ngoài ra cũng thu tại lòng bàn tay trái của T 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, lắp sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0338447921. T khai số chất màu trắng dạng cục và bột bị thu giữ là ma túy loại Heroin, T mua về mục đích là để sử dụng. Lực lượng Công an cũng đã tiến hành kiểm tra trên người Lò Văn T nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản nào khác có liên quan. Công an xã Nghĩa Trụ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong toàn bộ số ma tuý trong phong bì dán kín ghi ký hiệu M niêm phong 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, lắp sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0338447921 trong phong bì dán kín có ký hiệu M2.
Cùng ngày 26/12/2023 Công an xã Nghĩa Trụ đã bàn giao Lò Văn T cùng toàn bộ vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại nhà trọ của anh Vũ Quang Đ thuộc thôn 14, xã NT, huyện VG nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì. Tại Bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS(MT) ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong M có tổng khối lượng là 0,267g, là ma túy, loại Heroine (Heroin). Hoàn lại mẫu vật sau giám định gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,252g ma túy, loại Heroine (Heroin) ghi ký hiệu M; các mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Bản thân là người thường sử dụng chất ma tuý loại Heroin, là lao động tự do và không có việc làm ổn định. Khoảng 04 giờ ngày 26/12/2023, T đi một mình từ nhà trọ tại thôn 14, xã NT, huyện VG ra đầu thôn 14 thuê xe ôm chở đi tìm mua ma túy. Toàn gặp 01 người đàn ông lái xe ôm (không quen biết), thuê chở đến khu vực cầu Long Hưng thuộc xã Long Hưng, huyện Văn Giang. T xuống xe rồi đi bộ trên cầu, thì gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m66, cắt tóc ngắn, dáng người gầy (không rõ tên tuổi, địa chỉ). T nghĩ người này có ma tuý bán, nên đến hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý loại Heroin thì người đàn ông đồng ý. T đưa cho người đàn ông 1.000.000 đồng, thì người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 13 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột; T biết là ma tuý loại Heroin nên cầm tất cả số ma túy trên trong lòng bàn tay phải rồi đi nhờ xe của một người đi đường về nhà trọ. Khi về đến nhà trọ thì T cất 13 gói ma tuý vừa mua được vào 02 gói giấy màu trắng gồm: 01 gói giấy chứa 02 gói ma tuý; 01 gói giấy chứa 11 gói ma tuý rồi quần băng dính màu đen ở bên ngoài, với mục đích là để sử dụng dần. Đến khoảng 11 giờ 35 phút ngày 26/12/2023, T cầm số ma tuý trên trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ từ nhà trọ ra khu vực đường Sao Biển, khu đô thị sinh thái Dream City thuộc xã Nghĩa Trụ để tìm nơi sử dụng thì bị bắt như nêu ở trên.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, lắp sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0338447921 đã thu giữ của T. Kết quả kiểm tra lịch sử cuộc gọi đi và đến, nội dung tin nhắn Zalo, Messenger không phát hiện nội dung liên quan đến vụ việc.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma tuý cho T, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để Cơ quan điều tra xác minh, xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSVG ngày 15/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm b khoản 1 điều 46; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt Lò Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định bên trong có 0,252g ma túy, loại Heroine (Heroin), ghi ký hiệu M; các mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; Trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, lắp sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0338447921 01; Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo không không tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
- Người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 26/12/2023, tại đường Sao Biển khu đô thị sinh thái Dream City, thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang. Công an xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,267g ma tuý, loại Heroine. Mục đích T cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thường xuyên sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật theo bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Toàn, Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Giang đã điều tra nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xử phạt 08 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Toàn chấp hành xong bản án ngày 04/12/2019 và đã được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn sử dụng ma túy và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của pháp luật, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, giúp bị cáo cai nghiện được ma túy, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định bên trong có 0,252g ma túy, loại Heroine (Heroin), ghi ký hiệu M; các mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, lắp sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0338447921 trong phong bì dán kín có ký hiệu M2 thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo T.
. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
3. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2023.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định gi số 120/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,252g ma túy, loại Heroine (Heroin), các mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Trả lại bị cáo Lò Văn T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, vỏ sau màu xám, trong khe sim lắp 01 sim Viettel số 0338447921.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang).
6. Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Vũ Thu Giang