vanban.org

Bản án 42/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 05 (năm) năm tù về tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2023. đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng G và hình dấu Công an P1, Quậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 05 (năm) năm tù về tội: “Mua bán trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày: 11-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Vô

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư

ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1986 tại: An Giang; Giới

tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang; Chỗ ở: 1 N, Phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc H; Con bà: Nguyễn Thị H1; Có vợ tên Du Thị Ngọc T; Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2023 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 02/9/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an Quận 5 đang tuần tra đến trước số B L, Phường D, Quận E (trước chành xe P) thì phát hiện Nguyễn Hoàng G đang đứng cùng với Đào Hữu Q có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên tay phải G đang cầm một hộp giấy có dòng chữ AIR COOLER FAN bên trong có 01 hộp quạt máy mini màu xanh (kích thước 20x20 cm) phía trên đầu quạt máy màu xanh có hộc hình chữ nhật rỗng có nắp đậy, bên trong hộc có 01 bịch nylong chứa tinh thể không màu, G khai là ma túy đá dùng để bán cho người mua nên tổ công tác đưa G, Q cùng vật chứng về trụ sở Công an P1, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang và vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Hoàng G khai nhận: Vào ngày 31/8/2023, G liên lạc với một thanh niên tên thường gọi là T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 2.500.000 đồng ma túy với mục đích bán lại cho thanh niên tên “Trần Quang T2” nhà ở V, Hậu Giang với giá 3.000.000 đồng thu lời 500.000 đồng. T1 đem ma túy lại nhà trọ của G tại địa chỉ số A N, phường B, Quận G. Sau khi nhận ma túy, G cất ma túy đến sáng ngày 01/9/2023 lấy ma túy bỏ vào hộp giấy carton cứng rồi đóng gói kín lại (mục đích ngụy trang như một gói hàng hóa bình thường), sau đó đem ra trung tâm chuyển hàng nhà xe P2 tại địa chỉ B L, Phường D, Quận E làm thủ tục gửi về Vị T3, Hậu Giang cho “Trần Quang T2”. Sau đó, giữa G và T2 nảy sinh mâu thuẫn nên G gọi điện thoại cho trung tâm chuyển hàng nhà xe P2 làm thủ tục thu hồi lại gói hàng chứa ma túy đã gửi trên. Đến ngày 02/9/2023, do không có xe nên G nhờ bạn là Đào Hữu Q chở ra trung tâm chuyển hàng nhà xe P2 để lấy gói hàng chứa ma túy về, khi đang cầm gói hàng chứa ma túy đang đứng trước nhà xe thì bị phát hiện bắt quả tang như trên. G khai nhận Q không biết gì về sự việc trên, do không có xe nên G chỉ nhờ Q chở ra chành xe lấy đồ dùm chứ không nói cụ thể là gì. Bị can G chưa bán được nên chưa thu lợi bất chính. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng G và hình dấu Công an P1, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9389g (bốn phẩy chín ba tám chín gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1958/2023, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã cũ, số Imei: 869945064869339; 01 (một) hộp giấy có chữ AIR COOLER FAN; 01 (một) hộp quạt nhựa mini màu xanh. Tại bản Kết luận giám định số: 9652/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng G và hình dấu Công an P1, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9389g (bốn phẩy chín ba tám chín gam), loại Methamphetamine. Bản cáo trạng số: 33/CT-VKSQ5 ngày 23/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng G về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố

luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G với mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hoàng G không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói

lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Hoàng G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Hoàng G đã có hành vi mua chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để hưởng khoản tiền chênh lệch và bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ chất ma túy với khối lượng 4,9389g (bốn phẩy chín ba tám chín gam), loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc

làm của mình, biết việc tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý mua bán chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy

định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có

tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại

phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự

năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội. [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế và chưa được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [7] Về tiền thu lợi bất chính: Xét bị cáo chưa được hưởng lợi gì từ việc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét

xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với đối tượng tên T1 bán ma túy cho bị cáo G và đối tượng tên T2 là

người mua ma túy của bị cáo G, hiện chưa xác định được lai lịch, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Đào Hữu Q người đi cùng G khi bị bắt, qua điều tra xác định Q không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của G, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q là có căn cứ. [10] Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng G và hình dấu Công an P1, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9389g (bốn phẩy chín ba tám chín gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1958/2023, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4); 01 (một) hộp giấy có chữ AIR COOLER FAN; 01 (một) hộp quạt nhựa mini màu xanh. Xét đây là vật phạm pháp nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy. Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã cũ, số Imei: 869945064869339 là tài sản cá nhân của bị cáo G, sử dụng liên lạc vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước. [11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38;

Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 05 (năm) năm tù về tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2023.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa

đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng G và hình dấu Công an P1, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9389g (bốn phẩy chín ba tám chín gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1958/2023, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T4); 01 (một) hộp giấy có chữ AIR COOLER FAN; 01 (một) hộp quạt nhựa mini màu xanh. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã cũ, số I: 869945064869339. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ