vanban.org

Bản án 42/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 25/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn B 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 29-02-2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

```+
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày 25-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Thị Bời

Bà Phan Minh Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lăng Thị Em - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Kim Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nông Văn B, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1993 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn S, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Lộc Thị O, sinh năm 1965 (đã chết); tiền án: Không có, tiền sự: Tại Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 05-01-2023 của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đến ngày 06-4-2023 Nông Văn B đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 157/GCN-XPHC; nhân thân: Chưa bị kết án, đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa được xoá tiền sự, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 29-02-2024, tạm giam ngày 06-3-2024 đến nay, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Anh Phù Văn H; vắng mặt.

2. Anh Phù Văn H1; vắng mặt.

3. Anh Lý Xuân T; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Vy Văn V; vắng mặt.

- Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

1. Bà Chu Thanh Huyền – Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;

2. Bà Nguyễn Hà Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;

3. Ông Lưu Xuân Trường – Chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 27-02-2024, Nông Văn B một mình bắt xe khách từ nhà đến cổng thôn N, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn B xuống xe đi bộ vào trong thôn đến cầu ngầm gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ), người đàn ông hỏi “Nông Văn B có mua ma túy không?” Nông Văn B trả lời “Muốn mua 2.000.000 đồng tiền ma túy”, người đàn ông đồng ý. Nông Văn B đưa tiền, người đàn ông nhận tiền đi vào trong thôn N, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn khoảng 20 phút sau thì người đàn ông quay lại đưa cho Nông Văn B 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các cục, chất bột màu trắng là chất ma túy heroin. Nông Văn B nhận lấy số ma túy cất vào trong người rồi bắt xe khách đi về nhà. Về đến nhà, tại bàn uống nước ở phòng khách, Nông Văn B lấy túi ma túy vừa mua được ra rồi dùng dao cắt các ống hút nhựa màu trắng thành từng đoạn khoảng 01 cm, nghiền nhỏ số ma túy thành bột cho vào các ống hút nhựa và dùng bật lửa hàn kín hai đầu, tổng cộng được 25 gói ma túy. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29-02-2024, Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, Công an xã Thụy Hùng và cán bộ Đồn Biên phòng Na Hình phối hợp làm nhiệm vụ tại đoạn cầu H thuộc thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện Nông Văn B có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần đằng trước bên phải của Nông Văn B có 02 gói nhựa màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy heroin. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa Nông Văn B cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Trong quá trình điều tra Nông Văn B đã khai nhận: Bản thân Nông Văn B trước khi bị Công an bắt đã một mình sử dụng hết 10 gói ma túy.

Trong các này từ 27-02-2024 đến 29-02-2024, tại cầu H, Nông Văn B bán ma túy cho những người sau:

Khoảng 16 giờ ngày 27-02-2024, khoảng 13 giờ 40 phút ngày 28-02-2024 và khoảng 15 giờ ngày 29-02-2024, Nông Văn B bán ma túy cho Phù Văn H 03 lần mỗi lần 01 gói ma túy giá 100.000 đồng/gói.

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 27-02-2024, khoảng 14 giờ ngày 28-02-2024, Nông Văn B bán ma túy cho Phù Văn H1 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy giá 100.000 đồng/gói.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27-02-2024, khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28-02-2024, Nông Văn B bán ma túy cho Lý Xuân T 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy giá 100.000 đồng/gói và khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29-02-2024, B bán ma túy cho Lý Xuân T 02 gói ma túy giá 100.000 đồng/gói.

Ngoài ra, khoảng 16 giờ, ngày 28-02-2024, Nông Văn B bán cho 02 người nghiện khác (không biết họ tên, địa chỉ) mỗi người 02 gói với giá 100.000 đồng/gói.

Vật chứng, đồ vật tạm giữ trong vụ án gồm:

- 01 (một) phong bì thư có chữ viết tay “QT Nông Văn B”(cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,105 gam chất ma túy heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).

- 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu bằng chữ viết tay “Tiền Nông Văn B” tạm giữ của Nông Văn B, bên trong có 300.000 dồng đã qua giám định.

- 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, bên ngoài có chữ “ THONGNHAT”.

- 01 (một) túi nilon bên ngoài có chữ “Drinking straws” bên trong có 10 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10 cm.

- 01 (một) con dao sắt có cán nhựa màu vàng dài khoảng 10 cm.

Tại Kết luận giám định số 364/KL-KTHS ngày 05-3-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Heroin, có khối lượng 0,118 gam (đã trừ bì).

Tại Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 04-4-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định là tiền thật”.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo thừa nhận được bán ma tuý, cụ thể: Bán ma túy cho Phù Văn H, Phù Văn H1, Lý Xuân T với giá 100.000đ (một trăm nghìn) đồng/gói. Ngoài ra bán cho 02 người nghiện khác không biết họ tên, địa chỉ với giá 100.000đ (một trăm nghìn) đồng/gói.

Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn B từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Nông Văn B” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,105 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, bên ngoài có chữ “ THONGNHAT”; 01 (một) túi nilon bên ngoài có chữ “Drinking straws” bên trong có 10 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10 cm; 01 (một) con dao sắt có cán nhựa màu vàng dài khoảng 10 cm.

2. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) số tiền đang được tạm giữ tại số tài khoản 35910105477900000 tại Kho bạc nhà nước huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn – tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán ngày 24-5-2024.

3. Truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo Nông Văn B phạm tội mà có.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều có giá trị pháp lý, đúng theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt những người làm chứng Phù Văn H, Phù Văn H1, Lý Xuân T; người chứng kiến ông Vy Văn V. Xét thấy những người làm chứng, người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; do vậy việc vắng mặt những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 293, 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng, người chứng kiến và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29-02-2024; các Kết luận giám định số 364/KL-KTHS ngày 05-3-2024 và Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 04-4-2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, ngoài ra phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ xác định: Ngày 27-02-2024, Nông Văn B có hành vi mua bán trái phép chất ma túy Heroine với 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ tại khu vực thôn N, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Các ngày từ 27-2-2024 đến 29-02-2024, Nông Văn B đã bán 13 gói ma túy cho Phù Văn H, Phù Văn H1, Lý Xuân T và 02 người nghiện khác không biết họ tên, địa chỉ với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng/gói.Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nông Văn B đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi, bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự chưa được xoá tiền sự nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về áp dụng biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo Nông Văn B phạm tội mà có theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản xác minh ngày 20-3-2024 tại Uỷ ban nhân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo thuộc diện hộ gia đình cận nghèo, không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định, bản thân nghiện Heroine. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Nông Văn B” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,105 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, bên ngoài có chữ “ THONGNHAT”; 01 (một) túi nilon bên ngoài có chữ “Drinking straws” bên trong có 10 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10 cm; 01 (một) con dao sắt có cán nhựa màu vàng dài khoảng 10 cm, do không còn giá trị sử dụng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị và không sử dụng được theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) số tiền đang được tạm giữ tại số tài khoản 35910105477900000 tại Kho bạc nhà nước huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn – tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán ngày 24-5-2024 là số tiền do bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Nông Văn B tại khu vực cầu G thuộc thôn N, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn ngày 29-02-2024. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ đặc điểm nhận dạng để làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với Phù Văn H, Phù Văn H1, Lý Xuân T đã mua ma túy heroine với Nông Văn B, cơ quan điều tra đã tách và chuyển hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xem xét đưa vào diện quản lý người nghiện theo quy định.

Đối với 02 người nghiện đã mua ma túy heroin với Nông Văn B ngày 27-02-2024, do không rõ tên tuổi, địa chỉ nên cần tiếp tục xác minh làm rõ, sẽ đề nghị xử lý sau.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, về việc xử lý vật chứng và giải quyết toàn bộ vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn B 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 29-02-2024.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nông Văn B.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Truy thu đối với bị cáo Nông Văn B số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

4. Về xử lý vật chứng

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Nông Văn B” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,105 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, bên ngoài có chữ “ THONGNHAT”; 01 (một) túi nilon bên ngoài có chữ “Drinking straws” bên trong có 10 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10 cm; 01 (một) con dao sắt có cán nhựa màu vàng dài khoảng 10 cm.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Chi tiết vật chứng được ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của bị cáo Nông Văn B.

(Số tiền trên hiện đang được tạm giữ tại số tài khoản 35910105477900000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán ngày 24-5-2024).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ