- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 24 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Tân.
Bà Trần Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 27/11/1988, tại tỉnh Hậu Giang; trú tại: ấp 8, xã Đ, huyện V, tỉnh Hậu Giang; căn cước công dân: 093088006773, cấp ngày 30/5/2023, nơi cấp Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1968 và bà Danh Thị H, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là chị Trần Thị Nhu M2, sinh năm 1995 (đã ly hôn) ; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018 và nhỏ nhất sinh năm 2019; anh chị em ruột có 01 người em; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Chị Trương Lê Linh C, sinh ngày 31/10/2003 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại:
- Ông Trương Ngọc T, sinh ngày 05/9/1976 (là cha của bị hại có mặt).
Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Trương Lê Thuý L, sinh năm 2000 (xin vắng mặt).
Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
2/ Ông Lê Thanh Đ, sinh năm 1958 (xin vắng mặt).
Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
3/ Anh Nguyễn Phước T, sinh năm 1977 (xin vắng mặt).
Trú tại: Khu phố 1, phường 10, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hạng A1, FC do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp, có giá trị đến ngày 20/02/2028.
Vào khoảng 06 giờ 55 phút ngày 22/5/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 63C – 080.08, kéo theo sơ mi rơmoóc biển số 63R – 001.54 lưu thông trên đường D4 – Khu công nghiệp Long Giang hướng từ tỉnh lộ 866B đến công ty Tongwie. Khi đến giao lộ đường D4 và đường N5 thuộc ấp 4, xã Tân Lập 1, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang T điều khiển xe rẽ phải vào đường N5 thì xảy ra va chạm với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 053.10 do chị Trương Lê Linh C (nồng độ cồn trong máu của chị Linh C là 51.84 mg/dl), sinh năm 2003, địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang điều khiển chở theo phía sau là chị Trương Lê Thuý L, sinh năm 2000, ngụ cùng địa chỉ đang lưu thông cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả, Chị Linh C bị thương nặng và tử vong trên đường đưa đi cấp cứu, còn chị L bị thương nhẹ và 63B8 – 053.10. Xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 053.10 bị hư hỏng.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 164/2024/KLGĐTT-TTPY ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận nguyên nhân tử vong của chị Trương Lê Linh C là do Đa thương như sau: Mất máu cấp do vỡ gan và vỡ thận; Tụ máu phúc mạc sau 02 bên; Gãy cột sống; Tụ máu mạc treo hồi tràng; Rách mạc treo hồi tràng; Dập gấp hồi manh tràng; Gãy ngành trên xương mu; Gãy xương sườn do tai nạn giao thông.
Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước quản lý giấy phép lái xe hạng A1, FC (bản gốc) số 790145028536 ngày 20/02/2023 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Nguyễn Văn T chờ xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn xảy ra, bị cáo và anh Nguyễn Phước T đã tự nguyện liên đới bồi thường tiền mai táng, tổn thất tinh thần và sửa xe với tổng số tiền 264.000.000 đồng cho đại diện gia đình nạn nhân. Bị cáo T đã thực hiện xong.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 37/CT-VKSTP ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 50 Bộ luật Hình sự.
- Đề nghị, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
- Về vật chứng của vụ án:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T giấy phép lái xe hạng A1, FC (bản gốc) số 790145028536 ngày 20/02/2023 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Nguyễn Văn T.
- Bị cáo khai nhận về hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước đã truy tố, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ yêu cầu xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại thống nhất với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Lê Thúy L, ông Lê Thanh Đ, ông Nguyễn Phước T có đơn xin vắng mặt. Xét việc các đương sự vắng mặt không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự và đã có lời khai tại hồ sơ, đồng thời đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phước, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình là vào khoảng 06 giờ 55 phút ngày 22/5/2024, tại giao lộ đường D4 và đường N5 thuộc ấp 4, xã Tân Lập 1, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Nguyễn Văn T trong lúc điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 63C – 080.08, kéo theo sơ mi rơmoóc biển số 63R – 001.54 rẽ phải đã thiếu chú ý quan sát nên xảy ra va chạm với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 053.10 do chị Trương Lê Linh C điều khiển lưu thông cùng chiều làm chị Linh C tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả chết người nên bị cáo Nguyễn Văn T phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Khi tham gia giao thông bị cáo T đã thiếu chú ý quan sát cho xe rẽ không đảm bảo an toàn nên gây tai nạn giao thông, hậu quả làm chị Linh C tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm.
“.... 23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác, vi phạm an toàn giao thông đường bộ và trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; gia đình bị cáo khó khăn là lao động chính trong gia đình; gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Với tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để tuyên xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Như vậy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và các tình tiết ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đang làm tài xế và có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành pháp luật tốt tại địa phương. Việc không buộc bị cáo chấp hành án tại nơi giam giữ, cũng không làm ảnh hưởng xấu tình hình an ninh chính trị tại địa phương và đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội. Đồng thời, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
+ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, FC (bản gốc) số 790145028536 ngày 20/02/2023 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Nguyễn Văn T. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo và bị cáo yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định giao trả lại cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại là 264.000.000 đồng xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên. Như nhận định trên, đề nghị xử phạt bị cáo tù giam là chưa cần thiết, các đề nghị còn lại phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, 65 Bộ luật Hình sự.
- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách được thực hiện theo Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, FC (bản gốc) số 790145028536 ngày 20/02/2023 do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Nguyễn Văn T.
Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ. Thực hiện xử lý vật chứng khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T; đại diện bị hại ông Trương Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Lê Thuý L, ông Lê Thanh Đ, anh Nguyễn Phước T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND H. Tân Phước; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phước; - Cơ quan THA HS huyện Tân Phước; - Chi cục THADS. H. Tân Phước; - UBND xã Vị Đông, huyện Vị Thủy; - Người tham gia TT; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Toàn |