vanban.org

Bản án 42/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 27/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày: 27 – 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đình Thuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng

2. Ông Trần Trọng Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 13/5/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: L L; sinh ngày 11/5/1995. Tại: tỉnh Sóc Trăng.

Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: Khóm K M S, phường K H, thị xã V C, tỉnh S T.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ H – S D, xã T A, huyện H Q, tỉnh B P.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Khmer;

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Trình độ học vấn: 8/12.

Cha: L Q, sinh năm 1968 (đã chết).

Mẹ: L T D, sinh năm 1969, cùng ngụ khóm Khóm K M S, phường K H, thị xã V C, tỉnh S T.

Bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001.

Vợ: T T C, sinh năm 2000 (đã ly hôn).

Con: L T M T, sinh năm 2018.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Ngày 14/01/2024 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ 5, ấp 2, xã A K, huyện H Q, tỉnh B P thì bị bắt quả tang và tạm giữ.

Đến ngày 22/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: T V Đ; sinh ngày 08/7/2004. Tại: tỉnh Trà Vinh.

Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: Ấp C D, xã Đ A, huyện T C, tỉnh T V.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ H – S D, xã T A, huyện H Q, tỉnh Bình Phước.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Phật giáo.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Trình độ học vấn: 6/12.

Cha: Th V Đ, (không rõ năm sinh).

Mẹ: T T C Đ. (không rõ năm sinh). Cùng ngụ Ấp C D, xã Đ A, huyện T C, tỉnh T V.

Bị can có 02 anh em ruột, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Bị can chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Ngày 14/01/2024 cùng đồng phạm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ 5, ấp 2, xã A K, huyện H Q, tỉnh Bình Phước thì bị bắt khẩn cấp và tạm giữ.

Đến ngày 22/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Ông Điểu Mẫn- Chức vụ: Phó ban dân tộc – Hội đồng nhân dân huyện Hớn Quản. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút rạng sáng ngày 14/01/2024, Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước phối hợp với Công an xã An Khương, huyện Hớn Quản đi tuần tra nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Khi đến khu vực thuộc tổ 5, ấp 2, xã An Khương, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì phát hiện L L điều khiển xe môtô, loại Exciter màu Đỏ-đen, biển kiểm soát 84G1-722.60 chở Phạm Thanh Nam, sinh ngày 01/04/2008 đang lưu thông theo hướng từ xã Thanh Lương, thị xã Bình Long đi xã Thanh An, huyện Hớn Quản có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bên trong túi áo khoác màu đen của Nam đang mặc có 01 gói nylon trong suốt dạng miệng khoá miết đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là chất ma tuý) nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hớn Quản đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L L và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan đến vụ án. (BL 01 - 02)

Quá trình điều tra xác định hành vi của các bị cáo như sau: L L, Phạm Thanh Nam và T V Đ cùng làm thuê tại Trại heo Bình Long Farm thuộc ấp Địa Hạt - Sóc Dầm, xã Thanh An, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, sau khi cùng nhau uống bia tại khu cách ly của trại heo thì Nam rủ Lớn và Được cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng, nghe vậy tất cả đồng ý rồi Nam và Được mỗi người góp số tiền 200.000 đồng, còn Lớn góp số tiền 100.000 đồng. Sau đó L L điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: MXKING150, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 84G1-722.60 của T V Đ chở Nam đi đến khu vực (không rõ địa chỉ) thuộc xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tìm gặp một nam thanh niên tên Huy (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua một gói ma túy với số tiền 400.000 đồng; sau khi mua được gói ma túy thì Nam cất giấu gói ma túy vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi L L điều khiển xe môtô chở Nam đi về. Đến khoảng 01 giờ 30 phút rạng sáng ngày 14/01/2024, khi về đến đoạn đường thuộc tổ 5, ấp 2, xã An Khương, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an huyện Hớn Quản yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện Phạm Thanh Nam đang cất giấu trên người 01 gói ma tuý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hớn Quản đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L L và thu giữ 01 gói ma túy nêu trên. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hớn Quản tiến hành đưa T V Đ về trụ sở làm việc thì Được khai nhận vào tối ngày 13/01/2024, Được đã góp số tiền 200.000 đồng để cho Nam và Lớn đi mua ma túy về nhằm mục đích để sử dụng; từ đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Hớn Quản đã thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T V Đ để điều tra theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra L L, T V Đ khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T V Đ cho kết quả âm tính. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với L L cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy).

Căn cứ Kết luận giám định số: 98/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,7051 gam.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nylon trong suốt, dạng miệng khoá miết, có kích thước chiều dài 7,5cm x chiều rộng 5,0cm đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là chất ma túy);

- 01 xe mô tô loại EXCITER biển số 84G1-722.60, số máy: G3E6E0658464, số khung: MH3UG0750NK118081 (tình trạng xe đã cũ);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21, màu Xanh (điện thoại đã cũ, bị trầy xước);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, mặt sau màu vàng đồng, mặt trước màu trắng (điện thoại đã cũ, bị trầy xước);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S phiên bản MIUI Global 12.0.6, màu xanh, tình trạng máy đã cũ.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 22/4/2024, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo L L, T V Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo L L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Xử phạt bị cáo T V Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Đề nghị xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 0,7051 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại là: 0,5293 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 98/2024 ngày 14/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: MXKING150, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 84G1-722.60, số máy: G3E6E0658464, số khung: MH3UG0750NK118081. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do T V Đ đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 13/01/2024, T V Đ đã giao xe mô tô nêu trên cho L L làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của Phạm Thanh Nam, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên trả lại cho Phạm Thanh Nam theo quy định của pháp luật.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S phiên bản MIUL Global 12.0.6, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của T V Đ, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên trả lại cho T V Đ theo quy định của pháp luật.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, mặt sau vàng đồng, mặt trước màu trắng. Đây là tài sản cá nhân của L L, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên trả lại cho L L theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.

Bị cáo tranh luận: Các Bị cáo không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo L L xin giảm nhẹ hình phạt;

Bị cáo T V Đ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt người phiên dịch. Tuy nhiên bị cáo L L và T V Đ trình bày bị cáo nghe và hiểu, viết được tiếng phổ thông (Tiếng kinh) nên không cần người phiên dịch. Vì vậy HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo L L, T V Đ khai nhận:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 13/01/2024, Phạm Thanh Nam, L L và T V Đ cùng nhau góp số tiền 400.000 đồng đi mua ma túy về để sử dụng. Sau đó L L điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 84G1-722.60 của T V Đ chở Nam đi đến khu vực thuộc xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tìm gặp một nam thanh niên tên Duy (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một gói ma túy với số tiền 400.000 đồng; sau đó Nam cất giấu gói ma túy vào trong túi áo khoác đang mặc rồi Lớn điều khiển xe môtô chở Nam đi về. Đến khoảng 01 giờ 30 phút rạng sáng ngày 14/01/2024, khi về đến khu vực thuộc tổ 5, ấp 2, xã An Khương, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an huyện Hớn Quản kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 gói ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7051 gam nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hớn Quản đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L L, đồng thời thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T V Đ để điều tra theo quy định. Bản thân L L, T V Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước được Luật hình sự điều chỉnh. Hành vi trên của các bị cáo L L, T V Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 BLHS.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Các Bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân; thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo và không muốn rèn luyện bản thân nên cần áp dụng một hình phạt nghiên khắc đối với các Bị cáo, cần cách ly các Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo L L là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Được là người giúp sức góp số tiền mua ma túy 200.000đ tuy không trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng nhưng bị cáo Được giao xe mô tô của bị cáo cho bị cáo L L để làm phương tiện mua ma túy. Bị cáo Lớn góp số tiền mua ma túy 100.000đ ít nhất nhưng là người trực tiếp đi mua ma túy. Vì vậy vai trò của 02 bị cáo trong vụ án là như nhau. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, hợp tác với các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số hạn chế hiểu biết pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các Bị cáo khi quyết định hình phạt. Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo L L, T V Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; xử phạt bị cáo T V Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là hoàn toàn phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các Bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với Phạm Thanh Nam: Quá trình thu thập tài liệu về nhân thân, xác định: Phạm Thanh Nam, sinh ngày 01/4/2008. Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm (ngày 14/01/2024) thì Phạm Thanh Nam chưa tròn 16 tuổi nên Phạm Thanh Nam không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Căn cứ khoản 2 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản đã có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Châu B, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xem xét lập hồ sơ, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Phạm Thanh Nam nên HĐXX không xem xét.

Đối với người thanh niên tên Huy đã bán ma túy cho Nam: Quá trình điều tra, xác minh thu thập tài liệu không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của người tên Huy nên không có cơ sở để xử lý do vậy HĐXX không đề cập đến.

Xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với 0,7051 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại là: 0,5293 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 98/2024 ngày 14/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: MXKING150, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 84G1-722.60, số máy: G3E6E0658464, số khung: MH3UG0750NK118081. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do T V Đ đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 13/01/2024, T V Đ đã giao xe mô tô nêu trên cho L L làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của Phạm Thanh Nam, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Phạm Thanh Nam theo quy định của pháp luật.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S phiên bản MIUL Global 12.0.6, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của T V Đ, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho T V Đ theo quy định của pháp luật.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, mặt sau vàng đồng, mặt trước màu trắng. Đây là tài sản cá nhân của L L, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho L L theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề dân sự: Không có nên không đề cập đến.

Về án phí: Bị cáo L L và T V Đ phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo L L, Bị cáo T V Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo L L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo T V Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,7051 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại là: 0,5293 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 98/2024 ngày 14/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước.

- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: MXKING150, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 84G1-722.60, số máy: G3E6E0658464, số khung: MH3UG0750NK118081 do T V Đ đứng tên chủ sở hữu.

- Trả lại cho Phạm Thanh Nam, sinh ngày 01/4/2008 - Địa chỉ: Ấp 2, xã Vĩnh Châu B, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21, màu xanh.

- Trả lại cho T V Đ điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S phiên bản MIUL Global 12.0.6, màu xanh.

- Trả lại cho bị cáo L L điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, mặt sau vàng đồng, mặt trước màu trắng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và Theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số 0005987 ngày 26/4/2024 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo L L, T V Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Bị cáo;

- Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Lưu hồ sơ;

Đỗ Đình Thuyên

- Lưu VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đình Thuyên Phạm Quốc Vượng Trần Trọng Vĩnh Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Bị cáo;

- Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Lưu hồ sơ;

Đỗ Đình Thuyên

- Lưu VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đình Thuyên Nguyễn Chí Vương Trần Trọng Vĩnh

Cỡ chữ