- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/7/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 11-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
2. Ông Phạm Văn Chính
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú G ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ Đoàn Thị Yến T và 02 người con sinh năm 2020 và sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/7/2023 đến nay.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Đoàn Ngọc Y T1sinh năm 1994; địa chỉ: C tổ F, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(có mặt).
Chị Nguyễn Ngọc N năm 1983; địa chỉ: F M, phường A, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 6 giờ 10 phút ngày 25/7/2023, tổ tuần tra của ĐCông an Qđang thực hiện kế hoạch tuần tra trên tuyến đường N, khi tới giao lộ NSong hành QL 22 trước số A ấp T, xã T, H phát hiện N4 điều khiển xe máy biển số 59E1-691.09 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra Công an Qphát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H1 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 túi nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng được gói lại bằng miếng khăn giấy màu trắng trong túi quần bên trái của H1đang mặc; 01 cái ly thủy tinh hiệu Korice bên trong có chứa tinh thể màu trắng trong túi quần bên phải của H1nên chuyển giao cho Công an huyện H.
Kết quả giám định số 8157/KL-KTHS ngày 02/8/2023 của Phòng KCông an Thành phố H
+ 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, có trọng lượng 2,6241g là ma túy thể rắn, loại Ketamine.
+ 01 ly thủy tinh có chứa chất bột màu trắng, có khối lượng 0,9208g là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
Khám xét nơi ở của N5 thu giữ gì.
Kết quả điều tra Nguyễn Văn H2 nhận:
Nguyễn Văn H1là đối tượng nghiện ma túy khoảng 01 tháng nay. H1thường mua ma túy của một đối tượng nam (không rõ lai lịch) ở khu vực nghĩa trang B
Nguồn gốc ma túy khi bị bắt là từ một người tên T2là bạn quen biết khi T2đến quán nhậu (địa chỉ CSong hành QL22, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố H H1làm chủ để ăn uống cách ngày H1bị bắt khoảng 01 tuần. Qua tiếp xúc nhau T2biết H1có sử dụng ma túy khay nên ngày 25/7/2023 T2đưa ma túy cho H1cất để sử dụng, H1không biết nhân thân lai lịch và nhà của T2.
Mục đích H1cất giấu ma túy trong người mang về là để mang về nhà sử dụng. Khi đang đi trên đường về nhà thì bị bắt quả tang.
Test ma túy đối với Nguyễn Văn H3 tính.
- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H
+ 01 (một) túi ny lon chứa chất bột màu trắng;
+ 01 (một) cái ly thủy tinh hiệu Korice bên trong có chứa chất bột màu trắng.
+ 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max (Imel: 35395310087126)
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Piago Vespa, biển số 59E1-691.09, số máy: M827M5022546, số khung: RP8M82111FV021751. Đã qua sử dụng.
Trưng cầu Phòng PC09- Công an Thành phố Hgiám định số khung, số máy, kết quả số máy: M827M5022546, số khung: RP8M82111FV021751 là nguyên thủy.
Xác minh chủ sở hữu xe máy trên là của chị Nguyễn Ngọc N1(Đ/c 68b M, phường A, quận P, Thành phố H chị N2 bán cho Đoàn Ngọc Y T1(vợ H1nhưng chị T1chưa sang tên chủ xe (có hợp đồng mua bán xe). Lúc khoảng 06 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, khi đang ở quán, H1cất giấu ma túy trong người rồi lấy xe chạy về nhà thì bị bắt.
Tiến hành kiểm tra điện thoại của H1không có thông tin liên quan đến việc mua ma túy và thông tin về người bán ma túy cho H1không lưu số điện thoại của T2Cho đối tượng xác định nơi mua ma túy và phối hợp địa phương rà soát nhưng chưa xác định được người thanh niên bán ma túy cho H1Khi nào có căn cứ mời T2và người thanh niên bán ma túy làm việc xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 05/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng: 01 (một) túi ny lon chứa chất bột màu trắng; 01 (một) cái ly thủy tinh hiệu Korice bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Trả lại cho chị Đoàn Ngọc Y1 01 xe máy gắn máy hiệu Piago Vespa, biển số 59E1- 691.09, số máy: M827M5022546, số khung: RP8M82111FV021751 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max (I35395310087126).
Bị cáo H1 không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo hối hận việc đã làm, nên xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện HKiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, bị cáo mua của một người nam không rõ lai lịch tại nghĩa trang BNgày 25/7/2023 một người bạn của bị cáo tên T2là bạn quen biết của bị cáo đến quán nhậu của bị cáo C S, ấp M, xã T, huyện H, T2biết H1có sử dụng ma túy khay nên T2đưa ma túy cho H1cất để sử dụng. H1cất giấu ma túy mang về nhà để sử dụng, trên đường đi thì bị tổ tuần tra của ĐCông an Q thực hiện kế hoạch tuần tra trên Đường N tới giao lộ Song hành-QL22 trước số nhà A ấp T, xã T, huyện H phát hiện và bị bắt quả tang đang cất giấu ma túy. Lời nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Nội dung khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với nội dung biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định số 8157/KL-KTHS ngày 02/8/2023 của Phòng KCông an Thành phố Hvà các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở chứng minh Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ 3.5449g ma túy ở thể rắn loại Keetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang vào ngày 25/7/2023 đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 03/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…”
….
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khồi lượng từ 01 gam đến dưới 20gam;...”
Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, vi phạm pháp luật hình sự. Cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Văn H4 có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt. Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối tượng cung cấp ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Xét thấy, vật chứng là: gói niêm phong số vụ 1628/23 bên trong có 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy còn lai sau giám đinh, là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 (một) cái ly thủy tinh hiệu Korice bên trong có chứa chất bột màu trắng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max và 01 xe gắn máy hiệu Piago Vespa, biển số 59E1-691.09 đã qua sử dụng là tài sản cá nhân chị Đoàn Ngọc Y T1vợ của bị cáo, bị cáo tự lấy sử dụng không liên quan đến vụ án cần trả lại cho chị Đoàn Ngọc Y T1 là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm c khoản 2 Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/7/2023.
Về xử lý vật chứng:
-Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 1628/23.
- Trả lại cho chị Đoàn Ngọc Y1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max và 01 xe gắn máy hiệu Piago Vespa, biển số 59E1-691.09 số máy: M827M5022546, số khung: RP8M82111FV021751đã qua sử dụng.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKS-HS ngày 09/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2024).
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H5 chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn).
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, chị Đoàn Ngọc Y1 có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Ngọc N3 mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Phòng KTNV.TATpHCM; -VKSND Huyện Hóc Môn; - VKSND TpHCM; - CQĐT CA H Hóc Môn; - Chi cục THA DS H Hóc Môn; - Nhà tạm giữ CA HM; - Thi hành án phạt tù; - Bị cáo; - Hồ sơ; Lưu./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |