vanban.org

Bản án 42/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N được ly hôn ông Dương Văn D.

Về con chung: Giao các cháu Dương Huỳnh Tường V, sinh ngày 24/9/2012 và Dương Huỳnh Triệu V1, sinh ngày 25/5/2014 cho ông Dương Văn D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Huỳnh Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Huỳnh Thị N và BĐ Dương Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N được ly hôn ông Dương Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06-9-2024
Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hà.

2. Ông Nguyễn Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Huân – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ X, ấp G, xã L, huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn xin vắng mặt”

Bị đơn: Ông Dương Văn D, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ X, ấp G, xã L, huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N và ông Dương Văn D tự nguyện sống chung từ năm 2012, đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hôn nhân là tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý và có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại ấp G, xã L, huyện K. Vợ, chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Hiện nay hai bên vẫn sống chung một nhà, nhưng đã ly thân, không còn quan tâm tới nhau nữa. Nay, bà N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyến cho bà N được ly hôn ông D.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà N và ông D có 02 con chung là Dương Huỳnh Tường V, sinh ngày 24/9/2012 và Dương Huỳnh Triệu V1, sinh ngày 25/5/2014. Khi ly hôn bà N nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho ông D và bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Dương Văn D vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm theo giấy triệu tập ông D đến Tòa án để làm việc, nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến về nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm là chưa chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Huỳnh Thị N được ly hôn ông Dương Văn D; về con chung, đề nghị giao cháu Dương Huỳnh Tường V và Dương Huỳnh Triệu V1 cho ông D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện K nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn ông Dương Văn D có nơi cư trú tại ấp G, xã L, huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Huỳnh Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Dương Văn D và yêu cầu ông Dương Văn D trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hô” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 22/5/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Dương Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa sơ thẩm ngày 13/8/2024 và ngày 06/9/2024, nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà N và ông D theo quy định.

. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số I/2014, ngày 21/8/2014 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị N và ông Dương Văn D là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau. Hai bên vẫn sống chung một nhà nhưng đã ly thân, không còn phụ thuộc nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn ông D. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa giữa bà N và ông D đã đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà N được ly hôn ông D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà N và ông D có 02 con chung là Dương Huỳnh Tường V, sinh ngày 24/9/2012 và Dương Huỳnh Triệu V1, sinh ngày 25/5/2014. Xét thấy, khi bà N và ông D ly hôn các cháu Tường V và Triệu V1 có nguyện vọng được sống với cha là ông D, đồng thời bà N yêu cầu giao các con chung cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy giao các cháu Tường V và Triệu V1 cho ông D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn bà Huỳnh Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N được ly hôn ông Dương Văn D.

2. Về con chung: Giao các cháu Dương Huỳnh Tường V, sinh ngày 24/9/2012 và Dương Huỳnh Triệu V1, sinh ngày 25/5/2014 cho ông Dương Văn D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Huỳnh Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phi: Bà Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004837 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Huỳnh Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tổng đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ