vanban.org

Bản án 42/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-H"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Đào;

2. Bà Nguyễn Thị Hải Đường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST– HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2024 ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Thiều Minh N, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Trường H, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 04-01-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Thiều Minh N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị T Hận tự nguyện chung sống với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H gây nợ đã trả nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục nợ nần dẫn đến vợ chồng gây gỗ chị H bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống.

Vợ chồng ly thân từ năm 2023 đến nay, chị H không quan tâm đến con cái, anh N có ý định hàn gắn nhiều lần đến nhà mẹ ruột của chị H yêu cầu chị H về nhà nhưng chị H không đồng ý. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn anh N yêu cầu được ly hôn với chị H.

Về con chung có 02 người con chung là:

+ Thiều Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2016;

+ Thiều Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 2019.

Anh N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 2 con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Trường H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn chị Nguyễn Thị Trường H vắng mặt không tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không lý do.

2. Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Thiều Minh N đối với chị Nguyễn Thị Trường H.

Về con chung: giao 02 người con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, ghi nhận anh N không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Thiều Minh N phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe đương sự trình bày và hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Anh Thiều Minh N yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Trường H. Chị H có địa chỉ đang cư trú tại: Ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị Nguyễn Thị Trường H vắng mặt tại phiên tòa. Anh Thiều Minh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Thiều Minh N và chị Nguyễn Thị Trường H qua một thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, chung sống có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân giữa anh N và chị H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Anh N và chị H chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thời gian ly thân đã lâu. Toà án đã triệu tập chị H để tham gia tố tụng, nhưng chị H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Chị H không có thiện chí, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn hôn nhân gia đình giữa anh N và chị H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cho thấy không có khả năng hàn gắn đoàn tụ mối quan hệ vợ chồng giữa anh N với chị H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Thiều Minh N đối với chị Nguyễn Thị Trường H là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Thiều Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2016 và Thiều Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 2019. Anh N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị H yêu cầu cấp dưỡng. Thấy rằng anh N đang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và cháu T1 (trên 07 tuổi) có ý kiến muốn tiếp tục sống cùng cha là anh Thiều Minh N. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung cho anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận anh N không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Huyện D, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Thiều Minh N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Thiều Minh N đối với chị Nguyễn Thị Trường H. Anh N, chị H không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Thiều Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2016 và Thiều Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 2019 cho anh T3 Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh N không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Trường H được quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Thiều Minh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên lai thu số 0007211 ngày 05 tháng 01 năm 2024. Anh N đã nộp xong án phí.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ