vanban.org

Bản án 42/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử phạt: Ngô Doãn T 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 23/9/2022; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. 3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bên trong chứa 0,241gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Minh Than… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt: Ngô Doãn T 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 23/9/2022; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 42/2023/HSST
Ngày: 24/02/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy

Bà Trần Thanh Vân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương,Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/HSST ngày 10/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Doãn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1986; ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm G, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Doãn Sỹ (Đã chết) và con bà Nông Thị L; Vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 01 con;

- Tiền án: Tại Bản án số 329/2018/HSST ngày 14/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Ngô Doãn T 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/9/2020. Chưa thi hành xong phần truy thu sung quỹ nhà nước.

- Tiền sự: Tại Quyết định số 09/2021/QĐ-TA ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Doãn T, thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong ngày 16/12/2021.

- Nhân thân: Tại Bản án số 269/2009/HSST ngày 26/8/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Ngô Doãn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0024271 ngày 26/4/2018 của Công an thành phố Thái Nguyên xử phạt Ngô Doãn T 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0027371 ngày 23/7/2018 của Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Ngô Doãn T 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến: Ông Bùi Đình T, sinh năm 1956, trú tại: Tổ 10, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1985, trú tại: Xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 23/9/2022, tổ công tác của Công an phường Tân Long làm nhiệm vụ tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 7, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô gắn BKS 84H8-8616 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Nam thanh niên khai tên là Ngô Doãn T. Quá trình kiểm tra, T tự giác lấy từ bên trong túi áo ngực bên trái đang mặc 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận đây là ma túy vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô gắn BKS 84H8-8616 của T.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của Ngô Doãn T có khối lượng là 0,271gam và lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu T1.

Tại bản Kết luận giám định số 1528/KL-KTHS ngày 02/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,271 gam.

Tại cơ quan điều tra, Ngô Doãn T khai: T nghiện ma túy từ khoảng năm 2017 đến nay chưa cai bỏ được. Khoảng 12 giờ ngày 23/9/2022, T điều khiển xe mô tô BKS 84H8-8616 đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 7, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ. T cất gói ma túy vào túi áo ngực bên trái phía trước, sau đó đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Long phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Ngô Doãn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1 chứa 0,241 gam mẫu T1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu T1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T2 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu; 01 (một) xe mô tô Honda mang biển kiểm soát: 84H8- 8616, số máy: 1P52FMH3- 10225747; số khung: XS110* 21001691; xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) biển số xe mô tô 20H3- 9777. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPTN ngày 09/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Ngô Doãn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Doãn T phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Doãn T: Từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bên trong chứa 0,241gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 bì niêm phong kí hiệu T2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu; BKS: 84H8-8616

Trả lại cho chị Chị Ngô Thị Hồng, sinh năm 1985, trú tại: Xóm Quang Trung, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: 01 Biển số xe mô tô: 20H3-9777; 01 xe mô tô vỏ ghi nhãn hiệu Honda, màu sơn tím,nhãn hiệu: XIONGSHI, Số khung: FMH310225747, số máy: 11021001691, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, Số loại: 110; Dung tích xi lanh:108

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Doãn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Doãn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 23/9/2022, tại khu vực tổ 7, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Ngô Doãn T có hành vi tàng trữ 0,271 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPTN ngày 09/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Doãn T về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....

c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân rất xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Như vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Ngô Doãn T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về việc xử lý hành vi và các đối tượng có liên quan:Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ Ngô Doãn T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực tổ 7, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý; Đối với chiếc xe mô tô gắn BKS 84H8-8616, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Ngô Thị Hồng (sinh năm 1985, HKTT: Xóm Quang Trung, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên). Chiếc xe trên có BKS ban đầu 20H3-9777, nhưng đã bị anh Ngô Văn Duy (sinh năm 1986, HKTT: Xóm Quang Trung, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên) lắp BKS 84H8-8616 để sử dụng. Xét thấy chị Hồng không biết T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy và hành vi của anh Duy không vi phạm pháp luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bên trong chứa 0,241gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 bì niêm phong kí hiệu T2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu; BKS: 84H8-8616

Trả lại cho chị Chị Ngô Thị Hồng, sinh năm 1985, trú tại: Xóm Quang Trung, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên:01 Biển số xe mô tô: 20H3-9777; 01 xe mô tô vỏ ghi nhãn hiệu Honda, màu sơn tím. nhãn hiệu: XIONGSHI;Số khung: FMH310225747, số máy: 11021001691;Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3;Số loại: 110; Dung tích xi lanh:108

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

1/ Xử phạt: Ngô Doãn T 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 23/9/2022; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bên trong chứa 0,241gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Minh Thanh, Ngô Đức Cường và 02 dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên; 01 bì niêm phong kí hiệu T2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu, mặt sau Ngô Doãn T, Nguyễn Minh Thắng, Nguyễn Quang Kha và 03 dấu của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên; BKS: 84H8-8616

Trả lại cho chị Chị Ngô Thị Hồng, sinh năm 1985, trú tại: Xóm Quang Trung, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: 01Biển số xe mô tô: 20H3-9777; 01 xe mô tô vỏ ghi nhãn hiệu Honda, màu sơn tím. nhãn hiệu: XIONGSHI;Số khung: FMH310225747, số máy: 11021001691;Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3;Số loại: 110; Dung tích xi lanh:108

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 227 ngày 12/01/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

4/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Doãn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định ./.

Cỡ chữ