vanban.org

Bản án 42/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vi Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vi Đ 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vi Đ phạm tội " Táng trữ trái phep chất ma tuy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 42/2023/HSST
Ngày: 16/3/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU-TỈNH GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Đình Hoằng.

2. Bà Doãn Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/TLST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:44/2023/QĐXXST-HS, ngày 02/3/2023 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Vi Đ (tên gọi khác: Cu B).

Giới tính: Nam, sinh năm 1990 tại Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

NơiĐký HKTT: Tổ 03, phường Hội T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở trước khi bị bắt: Khu nhà trọ ở hẻm số 53 đường Đồng T, Tổ 04, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợ xăm.

Con ông Nguyễn Đ (đã chết), con bà Đinh Thị Thu C (đã chết).

Bị cáo có 03 chị, em ruột; lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1998. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Có vợ (đã ly hôn): Trần Thị Thảo V, sinh năm 1994.

Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2013. Hiện đang ở với chị V tại tổ 03, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Tiền án: 02 lần.

- Ngày 25/9/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku xét xử, tuyên phạt 48 tháng tù, về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Chấp hành án tại Trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai. Ngày 27/8/2016, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 29/12/2017, bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku xét xử, tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Vi Đphải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 05 năm 06 tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai. Ngày 21/01/2022, chấp hành xong hình phạt tù(Các lần bị kết án trên, Nguyễn Vi Đchưa được xoá án tích).

Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

- Ngày 01/11/2005, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Pleiku ra Quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng số 03 thành phố Đà Nẵng, thời hạn 24 tháng, về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 01/11/2007, chấp hành xong thời gian giáo dưỡng.

- Ngày 10/10/2011, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Pleiku ra Quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm tư vấn và cai nghiện ma tuý tỉnh Gia Lai, thời hạn 24 tháng. Ngày 17/01/2013, chấp hành xong thời gian cai nghiện.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2022 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: Ông Trịnh Đình D, sinh năm 1958; Địa chỉ: tổ 04, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vi Đ là người có sử dụng ma túy loại Heroine. Qua quen biết ngoài xã hội,Đbiết người thanh niên tên Hải Toác (không rõ nhân thân, lai lịch - ở khu vực thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê) là người có bán ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2022, do cần có ma túy để sử dụng nên Đ gọi điện thoại cho Hải Toác để mua ma tuý, loại Heroine với giá 1.500.000 đồng, Hải Toác đồng ý và hẹn Đ đến khu vực Công viên thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê để thực hiện việc mua, bán ma tuý. Sau đó, Đ thuê xe taxi của người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch và biển số xe) đi đến địa chỉ trên thì gặp Hải Toác; Đ đưa cho Hải Toác 1.500.000 đồng thì được Hải Toác chỉ đến gặp 01 người đồng bào dân tộc thiểu số (không rõ họ tên, nhân thân và lai lịch) đang đứng gần đó. Khi Đ đến gặp người dân tộc thiểu số thì được người này chỉ Đ đi đến hố đất trong khu công viên thị trấn Chư Sê, nơi cất giấu ma tuý. Sau khi lấy được ma tuý, Đ đón xe taxi của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch và biển số xe) chở đi về lạiphòng trọ số 07 thuộc khu nhà trọ ở hẻm số 53 đường Đồng Tiến, Tổ 04, phường Ia Kring, thành phố Pleiku – nơi Đ đang thuê ở. Tại đây, Đ phân chia gói ma tuý vừa mua được thành 08 gói giấy nhỏ hơn. Sau đó, Đ cất vào tủ áo trong phòng trọ nhằm mục đích để sử dụng dần. Vào lúc 22 giờ ngày 20/10/2022, khi Đ đang ở trong phòng trọ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh Gia Lai, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang; thu giữ trong tủ áo của Đăng, gồm: 08 gói giấy bên trong đều chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (được niêm phong theo quy định). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Vi Đ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, kèm thẻ sim (mặt sau có dãy số 89840.48000.33794.3187). Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh Gia Lai chuyển Nguyễn Vi Đ cùng hồ sơ vụ án và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku để điều tra theo thẩm quyền.

Qua trưng cầu giám định, tại bảnKết luận giám định số: 725/KLGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:“Chất màu trắng dạng cục, bột trong 08 gói giấy, trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng 0,1132 gam”.

Đối với chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định, trong 01 bì công văn ghi số: 725/PC09 ngày 28/10/2022,có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chuyển theo vụ án để xử lý .

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm thẻ sim, qua điều tra xác định: Bị cáo Đ đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chuyển chiếc điện thoại, kèm thẻ sim theo vụ án để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 45/CT -VKS ngày 09/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Vi Đvề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Vi Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vi Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

- Căn cứ: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cùng sim số.

Bị cáo Nguyễn Vi Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố: Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Vi Đ: Khoảng 12 giờ ngày 20/10/2022, tại khu vực Công viên thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, Nguyễn Vi Đ đã mua của đối tượng tên Hải Toác (không rõ nhân thân và lai lịch) 01gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1132 gamvới giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ đem về phòng trọ số 07 thuộc khu nhà trọ ở hẻm số 53 đường Đồng Tiến, Tổ 04, phường Ia Kring, thành phố Pleiku phân chia thành 08 gói nhỏ, cất giấu, với mục đích để sử dụng. Vào lúc 22 giờ ngày 20/10/2022, khi Đ đang ở trong phòng trọ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra tọi phạm về ma tuý - Công an tỉnh Gia Lai phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liê ̣u chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo Nguyễn Vi Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Mặc dù đã nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy với mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Đ vẫn cố ý phạm tội, bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu đã 02 lần bị kết án (chưa xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội, mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội điều này thể hiện bị cáo đã coi thường pháp luật và đã thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, nên cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm.

Tuy nhiên xét quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Dù giảm nhẹ nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục để đảm bảo được biện pháp răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền.

Đối với đối tượng tên Hải Toác đã bán ma túy cho bị cáo. Do không biết được nhân thân, lai lịch này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau, nên không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, cùng sim số là công cụ phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với chất ma túy đựng trong 01 bì công văn ghi số:725/PC09 ngày 28/10/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai là chất ma tuy còn sau giám định nên tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vi Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vi Đ 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2022.

- Căn cứ: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, kèm thẻ sim (điện thoại cũ, đã qua sử dụng).

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì công văn ghi số: 725/PC09 ngày 28/10/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai. Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 48/2023 ngày 15 tháng 02 năm 2023 giữa Công an TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai với Chi cục thi hành án dân sự TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Vi Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ