vanban.org

Bản án 42/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Tòng Văn K 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 07/02/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HSST.
Ngày: 08 - 6 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Phùng Văn Mạnh, ông Lường Văn Độ.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST – HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Tòng Văn K; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997 tại: Huyện S C, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 0140xxxxxxxx; nơi cư trú: Bản H N, xã M V, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Tòng Văn H, sinh năm: 1980 và bà Tòng Thị D, sinh năm: 1977; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 07/02/2023, chuyển tạm giam ngày 16/02/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan:

1. Ông Tòng Văn H, sinh năm 1980 (Bố bị cáo); số định danh cá nhân: 0140xxxxxxxx; nơi cư trú: Bản H N, xã M V, huyện S C, tỉnh Sơn La (Có mặt).

2. Bà Tòng Thị D, sinh năm 1977 (Mẹ bị cáo); số định danh cá nhân: 0141xxxxxxxx; nơi cư trú: Bản Huổi N, xã M V, huyện S C, tỉnh Sơn La (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ 40 phút ngày 06/02/2023, tại khu vực bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã Nậm Lạnh phối hợp với Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Tòng Văn K (Sinh năm: 1997, trú tại bản H N, xã M V, huyện S C) về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu trong túi quần bên phải Tòng Văn K đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong chứa 02 gói ni lon, gồm: 01 gói ni lon màu đỏ chứa 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng và 01 gói ni lon màu xanh chứa cục bột liên kết màu trắng (Khoa khai nhận là ma tuý mua về để sử dụng cho bản thân);

- 01 bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu H-Việt;

- 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Masstel;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen không có biển kiểm soát.

Ngày 07/02/2023, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng gồm:

- Cục bột liên kết màu trắng trong gói ni lon màu xanh do thu giữ của Tòng Văn K, có khối lượng 0,35 gam (Không phẩy ba mươi lăm gam). Lấy 0,11 gam ký hiệu K1 làm mẫu gửi giám định, số còn lại 0,24 gam ký hiệu K2 lưu kho vật chứng.

- 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng trong túi ni lon màu đỏ do thu giữ của Tòng Văn K, có khối lượng 0,27 gam (Không phẩy hai mươi bảy gam. Lấy 02 viên có khối lượng 0,17 gam ký hiệu K3 làm mẫu gửi giám định, số còn lại 01 viên khối lượng 0,10 gam ký hiệu K4 lưu kho vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 337/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu K1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu K2 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,35 gam, loại Heroine và 0,27 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, bị can Tòng Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 06/02/2023, Tòng Văn K một mình điều khiển xe mô tô từ nhà ở bản H N, xã M V, huyện S C, tỉnh Sơn La đến bản Nộc Cốp, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Nộc Cốp, xã Đứa Mòn thì K gặp một người đàn ông không quen biết, K đã chủ động hỏi và mua được của người đó 04 viên ma tuý tổng hợp được gói bằng mảnh ni lon màu đỏ và 01 cục Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu xanh với tổng số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý K đi vào bụi cây ven đường lấy 01 viên ma tuý tổng hợp và một ít Heroine ra sử dụng bằng cách cho vào mảnh giấy bạc đốt hít. Sử dụng xong ma tuý thì K gói lại số ma tuý còn thừa cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long, cất vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến nhà nười quen ở bản Nộc Cốc ăn cơm. Đến khoảng 2 giờ cùng ngày K điều khiển xe quay về nhà. Trên đường về theo Quốc lộ 4G đến khu vực bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp thì bị tổ công tác Công an xã Nậm Lạnh phối hợp với Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,35 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine như đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT - VKSSC ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Tòng Văn K về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 22 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,24 gam Heroine, 0,10 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định), 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu H-Việt, 01 mảnh ni lon màu đỏ và 01 mảnh ni lon màu xanh.

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là ông Tòng Văn H 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen và 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Masstel.

Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 06/02/2023, bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 02 loại ma tuý (0,35 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine) để sử dụng cho bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội mà giảm nhẹ hình phạt. Về vật chứng đề nghị trả lại chiếc xe mô tô cho bố bị cáo, bởi chiếc xe là tài sản chung của cả gia đình, do bị cáo có giấy phép lái xe mô tô nên bố mẹ bị cáo cho bị cáo đứng tên đăng ký xe.

Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan là ông Tòng Văn H có ý kiến: Vật chứng là chiếc xe mô tô, BKS đăng ký: 26F1 - 085.75 là tài sản chung của vợ chồng ông với bị cáo (Xe đăng ký tên bị cáo vì bị cáo có giấy phép lái xe). Việc bị cáo tự ý sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma tuý ngày 06/02/2023 vợ chồng ông Hồng không biết. Gia đình thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô cho gia đình ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi liên quan là Bà Tòng Thị D, tuy nhiên do bà D đã uỷ quyền tham gia tố tụng cho chồng là ông Tòng Văn Hồng. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; để xét xử vụ án vắng mặt bà Tòng Thị D.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 06/02/2023, bị cáo Tòng Văn K (Có căn cước lý lịch như trên) đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự để biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vật nhà nước cấm mua, bán, sử dụng, nhưng vì nghiện ngập mà bất chấp hậu quả nguy hiểm cho xã hội cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là 02 loại ma túy; kết luận giám định về 02 loại ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Tòng Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.".

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước hết là xâm hại đến chính sức khỏe, kinh tế của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng; là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong xã hội hiện nay. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận tội; bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng. Nên được xem xét áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ biên bản xác minh xác định bị cáo không có tài sản để thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,24 gam Heroine và 0,10 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời là vật cấm lưu hành, do vậy căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ cùng với số vật chứng liên quan gồm: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu H-Việt, 01 mảnh ni lon màu đỏ và 01 mảnh ni lon màu xanh.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen. Kết quả điều tra cũng như tại phiên toà xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo. Việc bị cáo tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý bố mẹ bị cáo không biết, không có lỗi, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên trả lại cho bố bị cáo là ông Tòng Văn H.

- Đối với chiếc điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Masstel. Kết quả điều tra cũng như tại phiên toà xác định là của ông Tòng Văn H (Bố bị cáo), không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên trả lại cho ông Tòng Văn H.

Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản Nộc Cốc, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng, nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án này và bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng 02 loại ma túy bị phát hiện bắt giữ.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ gia đình cận nghèo theo quy định của Chính phủ, nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Tòng Văn K 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 07/02/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo).

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Tòng Văn K - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 06/02/2023 tại bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 mảnh ni lon màu xanh; 01 mảnh ni lon màu đỏ đựng ban đầu; 01 túi ni lon màu trắng bên trong chứa 0,24 gam bột liên kết màu trắng ký hiệu K1, 01 túi ni lon màu trắng bên trong 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,1 gam ký hiệu K3 (Theo Kết luận giám định số 337/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, thì 0,24 gam bột liên kết màu trắng ký hiệu K1 nêu trên là ma tuý, loại Heroine; 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng khối lượng 0,1 gam ký hiệu K3 nêu trên là ma tuý, loại Methamphetamine)";

+ 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu H-VIET (đã quan sử dụng).

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là ông Tòng Văn H và bà Tòng Thị D: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150 màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLCUG1010NY381301, số máy: G3Đ4E1152345, có 01 chìa khoá xe kèm theo (đã qua sử dụng).

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là ông Tòng Văn H: 01 điện thoại di động loại bàn phím nhãn hiệu Masstel màu đen số IMEI 3556634045842298, được đựng trong 01 phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Tòng Văn K, sinh năm 1997, trú tại bản Huổi Niếng, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 06/02/2023 tại khu vực bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ”.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên toà biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/6/2023).

- Báo cho người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án theo thủ tục hợp lệ.

Cỡ chữ