- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L (Gái), Vương Thị HN (Oanh), Trần Thị Thu H, Cao Thị N (Ly), Huỳnh Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HSST Ngày: 16-5-2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD, TỈNH TÂY NINH
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Tài.
2. Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Toà án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Gái, sinh năm 1965, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ô2/80, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Huân (đã chết) và bà Lê Thị Hiển (đã chết); chồng: Nguyễn Văn Rúp, sinh năm 1960, con: 02 người, sinh năm 1982 và sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2022, bị tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến ngày 16/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Cao Thị N, tên gọi khác: Ly, sinh năm 1974, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ô2/87A, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Mỹ và bà Nguyễn Thị Gái; chồng: Trần Minh Hiếu, sinh năm 1971, con: 02 người, sinh năm 2000 và sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 29/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 15.000.000 đồng về tội đánh bạc, nộp tiền phạt và án phí xong ngày 08/01/2015. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2022, bị tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến ngày 16/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Vƣơng Thị HN, tên gọi khác: Oanh, sinh năm 1982, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 947/63/5, đường Lạc Long Quân, phường 11, quận Tân Bình, THnh phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn Tuồng và bà Nguyễn Thị Mận; chồng: Trần Văn Khén, sinh năm 1974, con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2022, bị tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến ngày 16/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Trần Thị Thu H, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ô2/45, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Xuân (đã chết) và bà Nguyễn Thị Triến; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2022, bị tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến ngày 16/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5/ Huỳnh Thị T, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1974, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: 129/8, đường Hoài Thanh, phường 14, Quận 8, THnh phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Khiết (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lòng; chồng 1: Nguyễn Văn Lập (đã chết), chồng 2: Lôi Tân Hưng, sinh năm 1963, con: 02 người, sinh năm 1989 và sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2022, bị tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến ngày 16/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 19/11/2022, Nguyễn Thị L chuẩn bị bài tứ sắc, 63 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 69 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có đóng chữ thuế màu đỏ, rồi gọi điện thoại rủ Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H và Huỳnh Thị T đến nH của L thuộc khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh đánh bài tứ sắc thắng thu bằng tiền thì tất cả đồng ý. L sử dụng 6.000.000 đồng, N sử dụng 6.300.000 đồng, H sử dụng 5.400.000 đồng và HN sử dụng 580.000 đồng để đánh bạc. Sau đó, Huỳnh Thị T đến nH của L bán vế số và xem đánh bạc thì L nhờ đánh bài giúp 02 ván. Hình thức đánh bài tứ sắc là chia 04 tụ bài, người thắng trơn thì thắng 03 người còn lại mỗi người 50.000 đồng; người thắng quan thì thắng 03 người còn lại mỗi người 100.000 đồng; đánh 10 ván sẽ đổi bộ bài mới. L quy ước tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng có đóng chữ thuế màu đỏ tương đương 50.000 đồng, còn tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có đóng chữ thuế màu đỏ tương đương 100.000 đồng; người đánh bạc phải dùng tiền mặt để đổi các tờ tiền 2.000 đồng và 5.000 đồng có đóng chữ thuế màu đỏ trước khi chơi đánh bạc. Sau khi nghỉ đánh bạc thì đưa lại cho L để đổi lại tiền mặt. Người thắng quan đầu tiên trong 10 ván sẽ đưa tiền xâu cho L 20.000 đồng; nếu trong 10 ván không có người thắng quan thì người thắng cuối cùng sẽ đưa tiền xâu cho L 20.000 đồng.
Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi L, N, HN, H và T đang đánh bạc, trong đó N, Hồng Nguyện, H thắng quan mỗi người 01 ván và đưa tiền xâu cho L tổng cộng 60.000 đồng thì Công an thị trấn GD bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc gồm: 60.000 đồng, 09 bộ bài tứ sắc, 896 lá bài tứ sắc, 63 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 69 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có đóng chữ thuế; thu giữ trên người các đối tượng đánh bạc tổng cộng 18.220.000 đồng cùng các vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra, tất cả đã tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về Hnh vi của mình. L, HN, H và T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã chuyển sang Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện GD chở xử lý.
Về kê biên tài sản: L, H, N và HN có sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất. T không có sở hữu tài sản.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSGD ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H và Huỳnh Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H và Huỳnh Thị T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Bị cáo Cao Thị N mức án từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Vương Thị HN mức án từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Trần Thị Thu H mức án từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Thị T mức án từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Các bị cáo Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H, Huỳnh Thị T đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện GD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Lúc 15 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, tại khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H và Huỳnh Thị T cùng nhau đánh bạc với hình thức đánh bài tứ sắc với tổng số tiền đánh bạc 18.280.000 đồng.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, Hnh vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hnh vi của các bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu tHnh tội phạm của tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Xét vai trò của bị cáo L trong vụ án đánh bạc: Bị cáo L là người trực tiếp chuẩn bị bài tứ sắc, rủ các bị cáo Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H tham gia đánh bạc nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo Cao Thị N, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H và Huỳnh Thị T trực tiếp đánh bạc với nhau nên chịu trách nhiệm hình sự tương đương nhau.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tHnh khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vương Thị HN có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Cha chồng là ông Trần Văn Sa là người có công cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 3); Bị cáo Trần Thị Thu H có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Cậu ruột là ông Nguyễn Văn Giới là người có công cách mạng, được Thủ tướng Chính phủ tặng Huân chương Tổ quốc ghi công)
Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện GD đối với bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của Hnh vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Thị L, Vương Thị HN, Trần Thị Thu H, Cao Thị N, Huỳnh Thị T có sở hữu tài sản. Cụ thể, L có quyền sử dụng đất thửa 345, tờ bản đồ số 05, diện tích 243,3m2, tọa lạc tại Ô 2, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; HN có quyền sử dụng đất thửa 923, tờ bản đồ số 26, diện tích 278,2m2, tọa lạc tại ấp Trâm Vàng 2, xã Thanh Phước, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; N có quyền sử dụng đất thửa 29, tờ bản đồ số 05, diện tích 102,7m2, tọa lạc tại Ô 2, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; H có quyền sử dụng đất thửa 262, tờ bản đồ số 06, diện tích 180m2, tọa lạc tại Ô 2, khu phố RS, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; T có mở sổ tiết kiệm mệnh giá 20.000.000 đồng tại Ngân Hng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện GD, tỉnh Tây Ninh. Như vậy, tất cả các bị cáo đều có tài sản, xử phạt các bị cáo bằng hình thức phạt tiền là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền, tuy nhiên theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Hình sự các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng:
+ Tuyên tịch thu sung vào ngân sách NH nước tiền Việt Nam 18.280.000 đồng; 63 (Sáu mươi ba) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng có đóng dấu màu đỏ; 65 (Sáu mươi lăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng có đóng dấu màu đỏ; 100 (Một trăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng có đóng chữ thuế bảo vệ môi trường. Gồm tiền thu giữ tại chiếu bạc và trong người các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L số tiền 7.140.000 đồng, giao cơ quan Thi Hnh án dân sự huyện GD tạm giữ để đảm bảo thi Hnh án.
+ 01 (Một) tấm da màu đen, xám; 01 (Một) dĩa nhôm; 03 (Ba) rỗ nhựa màu đỏ; 09 (Chín) hộp đựng bài tứ sắc; 784 (Bảy trăm tám mươi bốn) lá bài tứ sắc đã qua sử dụng; 112 (Một trăm mười hai) lá bài tứ sắc đang sử dụng; 01 (Một) mộc chữ viết màu đỏ, hình hộp chữ nhật có chữ “Thuế bảo vệ môi trường” là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu đồng, số Imei: 35445406532461, số sim 0969595047, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Trần Thị Thu H, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo H nhưng để đảm bảo việc thi Hnh án giao cho Cơ quan Thi Hnh án tiếp tục tạm giữ;
+ 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J8, số Imei 1: 359051091552562, số Imei 2: 59051091552560, số sim 0931547036, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đồng, số Imei: 353069097445694, số sim 0987815644, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị L, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo L nhưng để đảm bảo việc thi Hnh án giao cho Cơ quan Thi Hnh án tiếp tục tạm giữ;
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8, số Imei 1: 358541080933279, số Imei 2: 358541080948277, số sim 0989765976, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Cao Thị N, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo N nhưng để đảm bảo việc thi Hnh án giao cho Cơ quan Thi Hnh án tiếp tục tạm giữ;
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh, đen, số Imei 1: 353976319801530, số Imei 2: 354550379801539, số sim 0907499379, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Huỳnh Thị T, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo T nhưng để đảm bảo việc thi Hnh án giao cho Cơ quan Thi Hnh án tiếp tục tạm giữ;
- Giao Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện GD tạm giữ 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn do Huỳnh Thị T đứng tên số sổ AD 00022096075.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L (Gái), Vương Thị HN (Oanh), Trần Thị Thu H, Cao Thị N (Ly), Huỳnh Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nH nước.
Xử phạt bị cáo Cao Thị N 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nH nước.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T 20.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nH nước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vương Thị HN 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nH nước.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nH nước.
2/ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nH nước: Tiền Việt Nam 18.280.000 đồng; 63 (Sáu mươi ba) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng có đóng dấu màu đỏ; 65 (Sáu mươi lăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng có đóng dấu màu đỏ; 100 (Một trăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng có đóng chữ thuế bảo vệ môi trường. Tuyên trả lại bị cáo Nguyễn Thị L số tiền 7.140.000 (Bảy triệu một trăm bốn mươi ngàn) đồng.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tấm da màu đen, xám; 01 (Một) dĩa nhôm; 03 (Ba) rỗ nhựa màu đỏ; 09 (Chín) hộp đựng bài tứ sắc; 784 (Bảy trăm tám mươi bốn) lá bài tứ sắc đã qua sử dụng; 112 (Một trăm mười hai) lá bài tứ sắc đang sử dụng; 01 (Một) mộc chữ viết màu đỏ, hình hộp chữ nhật có chữ “Thuế bảo vệ môi trường”.
- Giao Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện GD tạm giữ các tài sản của các bị cáo như sau:
+ Bị cáo Nguyễn Thị L: 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J8, số Imei 1: 359051091552562, số Imei 2: 59051091552560, số sim 0931547036, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đồng, số Imei: 353069097445694, số sim 0987815644, đã qua sử dụng.
+ Bị cáo Trần Thị Thu H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu đồng, số Imei: 35445406532461, số sim 0969595047, đã qua sử dụng.
+ Bị cáo Cao Thị N: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8, số Imei 1: 358541080933279, số Imei 2: 358541080948277, số sim 0989765976, đã qua sử dụng.
+ Bị cáo Huỳnh Thị T: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh, đen, số Imei 1: 353976319801530, số Imei 2: 354550379801539, số sim 0907499379, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2023 tại Chi cục thi Hnh án dân sự huyện GD).
- Giao Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện GD tạm giữ 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn do Huỳnh Thị T đứng tên số sổ AD 00022096075.
Trường hợp người phải thi Hnh án không tự nguyện thi Hnh án thì Chấp Hnh viên xử lý tiền, tài sản đó để thi Hnh án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi Hnh án dân sự.
Trường hợp người phải thi Hnh án đã tự nguyện thi Hnh án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi Hnh án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi Hnh án dân sự.
4/ Án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Huỳnh Thị T, Trần Thị Thu H, Vương Thị HN, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị L, Cao Thị N, Huỳnh Thị T, Trần Thị Thu H, Vương Thị HN được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT. TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TPHCM; - VKSND Cấp cao tại TPHCM; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. GD; - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh; - CA H. GD; - NTG CA. H. GD; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS H. GD; - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Vũ |