vanban.org

Bản án 42/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 4,68 gam Heroine (đã trừ giám định). Trả lại chiếc xe máy màu đỏ-xám-đen, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave kết quả tra cứu phương tiện và giấy đăng ký xe là loại xe Wave S), biển kiểm soát 27B1-331.20, số khung: RLHHC12058Y133931, số máy: HC12E0255831, xe không có gương chiếu hậu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mòng Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 42/2023/HSST
Ngày: 23-02-2023
ơ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vừ A Câu.

2. Bà Đồng Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mòng Văn M (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1973 tại xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB; Nơi cư trú: Bản CL, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không; Con ông Mòng Văn Ơ (đã chết) và bà Lò Thị I, sinh năm: 1932; có vợ là Lò Thị S, sinh năm 1977 và có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 47/2019/HSST ngày 01/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 21/10/2021 chấp hành xong chưa được xóa án tích; Tiền sự: không. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/11/2022 đến 15/11/2022; tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Lò Thị S, sinh năm: 1977; Trú tại: Bản CL, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB. Vắng mặt có lý do.

+Anh Nạ Văn T, sinh năm: 1987; Trú tại: Bản CL, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/11/2022, Mòng Văn M cầm theo số tiền 1.200.000đ và điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B1-331.20 đi từ nhà từ bản CL, xã Ph lên khu vực lán nương của một người đàn ông tên Minh ở bản PHC, xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến lán nương của người đàn ông tên Minh, Mòng Văn M đã hỏi mua của Minh được 01 cục Heroine giá 1.200.000đ, nhưng có một mảnh Heroine bị vỡ nên M đã dùng mảnh nilon màu trắng gói lại. Sau khi mua được ma túy, M ở lại lán nhà Minh chơi. Khoảng 14 giờ ngày 06/11/2022, M điều khiển xe đi về nhà về đến bản Xa Vua A, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên Đông phối hợp với tổ công tác theo kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của Mòng Văn M là 02 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 27B1-331.20.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 06/11/2022 và Kết luận giám định số 1456/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột màu trắng đục thu giữ của Mòng Văn M có khối lượng 4,91 gam, trích 0,23 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông tên Minh đã bán Heroine cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSĐBĐ ngày 07/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo Mòng Văn M về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mòng Văn M về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mòng Văn M từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 4,68 gam Heroine còn lại sau giám định, trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave S, biển kiểm soát 27B1-331.20 cho anh Nạ Văn Tân, sinh năm: 1987; Trú tại: Bản Cảnh Lay, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị Son vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra chị Soi đã khai gia đình có bán thóc thu được số tiền 1.200.000 đồng để mua quần áo cho các con. Việc chồng chị mang số tiền đó đi mua ma túy chị không biết, cũng không yêu cầu anh M trả lại số tiền trên.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nạ Văn Tân khai nhận chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-331.20 mà bị cáo M dùng làm phương tiện đi mua ma túy là xe của anh, chiếc xe là do anh mua của chị Chá Thị Sua tại bản Từ Xa A, xã Phì Nhừ năm 2021 với giá 2.000.000 đồng. Khi mua xe anh Tân chưa làm thủ tục sang tên. Việc bị cáo M mang xe đi mua ma túy anh Tân không biết. Anh Tân đề nghị HĐXX trả lại xe cho anh để anh có phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại của gia đình.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Mòng Văn M bị truy tố thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy nên ngày 05/11/2022 bị cáo đi tìm mua được 01 cục Heroine mục đích để sử dụng. Ngày 06/11/2022 khi đang trên đường đi về nhà thì bị Công an bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine bị cáo mua. Số Heroine bị thu giữ có khối lượng 4,91 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/11/2022, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hành vi tàng trữ 4,91 gam Heroine của bị cáo Mòng Văn M nhằm mục đích sử dụng là hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Bị cáo Mòng Văn M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bản thân bị cáo vào năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tuyên xử 03 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 21/10/2021 trở về địa phương đến khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 05/11/2022 chưa được xóa án tích, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo cũng đã lập gia đình riêng nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân xây dựng gia đình mà lại đua đòi bè bạn sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, từ nghiện nên mua tàng trữ sử dụng dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích do đó bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Như vậy phân tích về hành vi, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần chấp nhận.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích tại mục [1], [2] và [3] Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, phân tích đề xuất.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án:

Vật chứng thu giữ của bị cáo là 4,91 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,23 gam không hoàn lại, còn 4,68 gam Heroine đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc chiếc xe máy Honda màu đỏ-xám-đen nhãn hiệu Wave s, biển kiểm soát 27B1-331.20, số khung: RLHHC12058Y133931, số máy: HC12E0255831 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nạ Văn T, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay đã làm rõ việc bị cáo dùng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma túy anh Nạ Văn T không biết do đó cần trả lại chiếc xe máy trên cho anh Nạ Văn T theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên Minh bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Mòng Văn M (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Mòng Văn M 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/11/2022).

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 4,68 gam Heroine (đã trừ giám định).

- Trả lại chiếc xe máy màu đỏ-xám-đen, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave kết quả tra cứu phương tiện và giấy đăng ký xe là loại xe Wave S), biển kiểm soát 27B1-331.20, số khung: RLHHC12058Y133931, số máy: HC12E0255831, xe không có gương chiếu hậu bên phải, yên xe bị rách. Xe bị trầy xước cong vênh, gãy hỏng, vỡ nhiều chỗ, xe cũ đã qua sử dụng (kèm theo chìa khóa xe) cho anh Nạ Văn T, sinh năm: 1987; trú tại: Bản CL, xã Ph, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 08/02/2023 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mòng Văn M.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/02/2023). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ