- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sào Xe L cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____________ Bản án số: 42/2023/HSST. Ngày 29/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Bà Ly Giờ Gụ
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Xào Xe L; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1974 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện B, Lào Cai. Dân tộc: Hà Nhì; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Sào Giờ S và bà Lý Tả M(đều đã chết); Vợ Cao Tả M, sinh năm 1973, cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện B, Lào Cai; có 06 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2007; về nhân thân: là người nghiện chất ma túy; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt
2. Họ và tên: Sần Giờ D; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1971 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện B, Lào Cai. Dân tộc: Hà Nhì; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Sần Già D và bà Lý Lở M(Đều đã chết);Vợ: Chu Lở M, sinh năm 1972, cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện B, Lào Cai; có 04 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2010; về nhân thân: là người nghiện chất ma túy; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Phạm Thị Thương- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai- Vắng mặt
Người phiên dịch cho các bị cáo tại phiên tòa: Ông Sờ Có Suy, sinh năm: 1992; Dân tộc: Hà Nhì; Nghề nghiệp: Chuyên viên, Huyện đoàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai- Có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 09/6/2023 bị cáo Xào Xe L đang ở nhà thuộc thôn Kin Chu Phìn 2, xã Nậm Pung, huyện Bát Xát thì nảy sinh ý định đi mua ma túy(Hêrôin) về để sử dụng cho bản thân, bị cáo L mang theo 500.000đ(Năm trăm nghìn đồng) đi bộ đến nhà bị cáo Sần Giờ D ở cùng thôn, rủ bị cáo D đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. Bị cáo D đồng ý và đưa cho bị cáo L 500.000đ(Năm trăm nghìn đồng) bị cáo L nhận tiền cất vào túi quần. Sau đó, bị cáo D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B3-147.32 chở bị cáo L đi đến khu vực xã Ngũ Chỉ Sơn, thị xã Sa Pa gặp một người đàn ông không quen biết bị cáo L hỏi và mua của người đàn ông này 01(một) gói Hêrôin được gói bằng nilon màu đen bên trong là chất bột khô, màu trắng, vón cục với giá 1.000.000đ(Một triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý bị cáo L cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, bị cáo D điều khiển xe mô tô chở bị cáo L về nhà bị cáo D để cùng nhau sử dụng số ma túy vừa mua được. Trên đường về đến khoảng 07giờ 30 phút cùng ngày cả hai đến thôn Kin Chu Phìn 1, xã Nậm Pung, huyện Bát Xát thì bị Tổ công tác Công an xã Nậm Pung kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo Xào Xe L 01(một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 03577177116 và thu giữ của Sần Giờ D 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, màu xanh đen, biển kiểm soát 24B3-147.32.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định hồi 18 giờ 00 phút ngày 09/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát và Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã xác định: 01(một)gói được gói ngoài bằng nilon màu đen, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Khối lượng của chất bột khô, màu trắng, vón cục là 1,78 (một phẩy bẩy mươi tám gam) gam.
Kết luận giám định về ma tuý số 200/KL-GĐMT ngày 12/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định: 1,78(Một phẩy bẩy mươi tám)gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại ma tuý Heroine(Hêrôin).
Cáo trạng số 35/CT- VKSBX ngày 01/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã truy tố các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Bát Xát giữ quyền công tố luận tội: Các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D biết rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện chất ma túy ngày 09/6/2023 các bị cáo đã tàng trữ 1,78(Một phẩy bẩy mươi tám) gam ma tuý Heroine(Hêrôin), mục đích để sử dụng cho bản thân, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy đã bị thu giữ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Xào Xe L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Sần Giờ D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1,54(Một phẩy năm mươi tư) gam Heroine(Hêrôin) cùng một mảnh nilon màu đen.
Trả lại cho bị cáo Xào Xe L: 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 03577177116, điện thoại đã qua sử dung.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo vắng mặt, nhưng tại bản bào chữa người bào chữa đưa ra quan điểm: Về tội danh cũng như điều luật áp dụng, người bào chữa nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nên nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Xào Xe L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Sần Giờ D mức án từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù; không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; Miễn tiền án phí cho các bị cáo theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D khai nhận: Do nghiện chất ma túy, nên khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 09/6/2023 bị cáo Xào Xe L mang theo 500.000đ(Năm trăm nghìn đồng) đi bộ đến nhà bị cáo Sần Giờ D ở cùng thôn, rủ bị cáo Do đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. Bị cáo Sần Giờ D đồng ý và đưa cho bị cáo Lúy 500.000đ(Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, bị cáo Sần Giờ D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B3-147.32 chở bị cáo Lúy đi đến khu vực xã Ngũ Chỉ Sơn, thị xã Sa Pa gặp một người đàn ông không quen biết mua được 1,78(Một phẩy bẩy mươi tám) gam ma tuý Heroine(Hêrôin) với giá 1.000.000đ(Một triệu đồng). Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày cả hai đến thôn Kin Chu Phìn 1, xã Nậm Pung, huyện Bát Xát thì bị Tổ công tác Công an xã Nậm Pung kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,78(Một phẩy bẩy mươi tám)gam Heroine(Hêrôin) mục đích để sử dụng cho bản thân, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát đề nghị tuyên bố các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Xào Xe L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Sần Giờ D, Viện kiểm sát đề nghị mức án mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù là không đánh giá đúng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D cho rằng các bị cáo là người dân tộc thiếu số, hoàn cảnh gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Xào Xe L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Đối với bị cáo Sần Giờ D đề nghị mức án từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù là không đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với vấn đề miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Xào Xe L là người khởi xướng rủ bị cáo Sần Giờ D đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với bị cáo Sần Giờ D khi được bị cáo Xào Xe L rủ đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo đã đồng ý tham gia và lấy xe mô tô chở bị cáo Lúy đi mua ma túy, nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai là người thực hành trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng;
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng kinh tế để thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Số vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định: 1,54(Một phẩy năm mươi tư) gam Heroine(Hêrôin) cùng 01(một) mảnh nilon màu đen. Đây là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 03577177116, điện thoại đã qua sử dung. Đây là tài sản không liên quan đến hành vi phạm phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo Xào Xe L là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự.
Đối với 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh đen biển kiểm soát 24B3-147.32 đã thu giữ của Sần Giờ D khi bắt quả tang ngày 09/6/2023. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là của anh Sần Gió Mờ(con trai bị cáo). Việc bị cáo Sần Giờ D tự ý lấy xe sử dụng để đi mua ma túy ngày 09/6/2023 cùng với bị cáo Xào Xe L, Sần Gió Mờ không biết. Ngày 17/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 19, trả lại chiếc xe mô tô cho Sần Gió Mờ là phù hợp.
Về án phí: Theo biên bản xác minh ngày 13/6/2023 có xác nhận của UBND xã Nậm Pung thể hiện bị báo Xào Xe L là hộ cận nghèo, bị cáo Sần Giờ D thuộc hộ nghèo năm 2023, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho các bị cáo được miễn nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2.Về mức phạt : Xử phạt bị cáo Xào Xe L 01(một) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023
Xử phạt bị cáo Sần Giờ D 01(một) năm 07(bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1,54(Một phẩy năm mươi tư) gam Heroine(Hêrôin) cùng một mảnh nilon màu đen và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Xào Xe L và Sần Giờ D tại thôn Kin Chu Phìn 1, xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 09/6/2023 ”.
Trả lại cho bị cáo Xào Xe L: 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu xanh Model 1174, bên trong có 01 sim Viettel số thuê bao 0357717716, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra hoạt động của máy(Vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/8/2023).
4.Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Xào Xe L, Sần Giờ D được miễn 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7,7a,7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lào Cai (1); - TAND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND huyện Bát Xát (1); - Công an huyện Bát Xát (2); - Bị cáo (2); - Trại giam CA tỉnh Lào Cai (2); - THADS huyện Bát Xát (1); - HS THA HS (2); -Sở TP tỉnh Lào Cai(2); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | ( Đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hằng |