vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu H - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 26-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thành, bà Đình Thị Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu H, tên gọi khác: không; sinh ngày 2x tháng 1x năm 199x, tại tỉnh YB; HKTT: TDP HP, phường HH, thành phố YB, tỉnh YB; chỗ ở: TDP HP, phường HH, thành phố YB, tỉnh YB; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ (sinh năm: 196x) và bà Trần Thị L (sinh năm 196x); có chồng: Nguyễn Văn L (sinh năm 198x) và 2 con, con lớn sinh năm 201x, con nhỏ sinh năm 202x; tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt ngày 22-02-2022 đến 24-02-2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường HH, thành phố YB, tỉnh YB. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Việt T, sinh năm: 198x, địa chỉ: TDP NT, phường NC, thành phố YB, tỉnh YB. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 196x, địa chỉ: Thôn ĐQ, xã MQ, huyện TY, tỉnh YB. Có mặt

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Thắng, sinh năm: 197x, địa chỉ: Tổ 1x, phường NTH, thành phố YB, tỉnh YB. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 22-02-2023, Nguyễn Việt T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0397.383.980 gọi vào số điện thoại 0942.668.662 của Nguyễn Thị Thu H để hỏi mua 01 gói ma túy loại heroine với giá 500.000 đồng. H đồng ý và hẹn T ra khu vực đầu đường Đào Tấn (thuộc tổ 02, p. Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) để trao đổi, mua bán ma túy. Sau đó, H điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 21MĐ1-086.17 đi ra khu vực phía sau chợ ga Yên Bái (thuộc TDP Hồng Phú, p. Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại heroine được gói bằng giấy, loại tờ lịch, bên ngoài bọc bằng nilon màu trắng với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, H đi đến chỗ hẹn, gặp và đưa cho T gói heroine vừa mua được. T nhận gói heroine và đưa cho H số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua bán ma túy xong, T xin H ít tiền lẻ thì được H cho 9.000 đồng. Sau đó H đi về, T đi mua xilanh, nước cất novocain rồi cầm gói heroine ra khu vực công viên Yên Hòa để sử dụng, khi T vừa sử dụng xong thì bị Công an thành phố Yên Bái phát hiện, thu giữ 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy loại tờ lịch, 01 vỏ ống novocain, 01 vỏ túi nilon đựng xilanh, 01 xilanh nhựa 3ml/cc bên trong có dính máu và ma túy.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thu H tại TDP HP, p.HH, thành phố YB thu giữ: tại túi áo khoác phía trước bên phải của Nguyễn Thị Thu H số tiền 2.190.000 đồng, trong ví giả da 01 căn cước công dân số 015.191.009.979 mang tên Nguyễn Thị Thu H, trên bàn uống nước trong phòng khách nhà H 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh có số thuê bao 0942.668.662, tại chạn bát trong bếp 02 mảnh nilon màu đen, 02 mảnh giấy 01 một mặt trắng loại giấy phong bì thư và 01 mảnh nilon trong suốt. Tạm giữ 01 xe máy điện nhãn hiệu OSAKAR màu xanh đen biển kiểm soát 21MĐ1-086.17 (do Nguyễn Văn Linh là chồng của H giao nộp).

Tại Kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 28-02-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: dung dịch màu hồng có dính trong chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc thu giữ của Nguyễn Việt T không xác định được thể tích là ma túy, loại heroine.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-TP ngày 13-4-2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 2 khoản 2, Điều 51, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, không có ý kiến tranh luận gì. Xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 ngày 22-02-2023, tại khu vực đường Đào Tấn, thuộc tổ 02, p. Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Việt T 01 gói ma túy, loại heroine với giá 500.000 đồng, H được hưởng lợi số tiền 100.000 đồng.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Thu H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Động cơ, mục đích phạm tội đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo là vụ lợi cá nhân. Vì vậy, phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; có bố đẻ là ông Nguyễn Thành Đ được Chủ tịch nước tặng Huy chương vì an ninh Tổ quốc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản; không có nghề nghiệp, thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Việt T là người sử dụng chất ma túy, đã mua ma túy của Nguyễn Thị Thu H để sử dụng cho bản thân. Do hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều ra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Thị Thu H khai ngày 22-02-2023 mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực sau chợ ga Yên Bái, nhưng H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Về vật chứng:

- Đối với dung dịch máu và ma túy trong chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc thu giữ của Nguyễn Việt T, cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe máy điện màu xanh đen, nhãn hiệu OSAKAR biển kiểm soát 21M1-086.17 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Thành Đ. Ông Đ không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại chiếc xe máy điện cho ông Nguyễn Thành Đ.

- Đối với 01 điện thoại Iphone 13 Promax lắp sim số 0942.668.662 H dùng để liên lạc mua bán ma túy với T và số tiền 500.000 đồng H thu được qua việc bán ma túy cho T. Cần tịch thu điện thoại và số tiền 500.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc, 01 vỏ túi nilon đựng xilanh đã bị xé, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy loại tờ lịch, 01 vỏ ống nước cất có chữ novocain, 02 mảnh nilon màu đen, 02 mảnh giấy một mặt màu trắng, 01 mảnh nilon trong suốt. Xét có liên quan đến tội phạm, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với các tài sản gồm số tiền 1.690.000 đồng; 01 căn cước công dân số 015.191.009.979 mang tên Nguyễn Thị Thu H, là tài sản hợp pháp của H, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 02 năm 06 tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc, 01 vỏ túi nilon đựng xilanh đã bị xé, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy loại tờ lịch, 01 vỏ ống nước cất có chữ novocain, 02 mảnh nilon màu đen, 02 mảnh giấy một mặt màu trắng, 01 mảnh nilon trong suốt.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 13 Promax lắp sim số 0942.668.662, số tiền 500.000 đồng.

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu H: số tiền 1.690.000 đồng; 01 căn cước công dân số 015.191.009.979 mang tên Nguyễn Thị Thu H.

- Trả lại cho ông Nguyễn Thành Đ: 01 xe máy điện màu xanh đen, nhãn hiệu OSAKAR biển kiểm soát 21M1-086.17.

(Chi tiết đặc điểm vật chứng, đồ vật, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14-4-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ