- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 17/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Thống; Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2023/HSST ngày 17/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 07/02/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Danh L (tên gọi khác: L H); giới tính: Nam; sinh ngày 07 tháng 7 năm 1978, tại tỉnh: Bình Phước;
Nơi đăng ký HKTT: Buôn R, thị trấn Tr, huyện A, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12;
Con ông Trương Danh Ch, sinh năm 1950; Con bà: Phạm Thị V, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ: Đoàn Thị Bích H, sinh năm 1974 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009. Hiện sinh sống tại Buôn R, thị trấn Tr, huyện A, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 21/HSPT ngày 12/02/2004, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 40 tháng tù giam, về tội trộm cắp tài sản; Ngày 05/07/2005 chấp hành xong án phạt tù;
- Tại Bản án số 03/2012/HSST ngày 18/01/2012, Toà án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xét xử tuyên phạt 06 tháng 07 ngày tù giam về tội trộm cắp tài sản, được trả tự do tại phiên tòa;
- Tại Bản án số 39/HSST ngày 21/11/2014, Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 02 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản; Ngày 31/03/2016 chấp hành xong án phạt tù;
- Tại Quyết định số 329/QĐ-UBND ngày 16/11/2017, Chủ tịch UBND thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, từ ngày 16/11/2017 đến 16/2/2018;
- Tại Bản án số 06/HSST ngày 20/03/2019, Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Ngày 18/01/2020 chấp hành xong án phạt tù; Đã được xóa án tích;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an TP. Buôn Ma Thuột - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Thế Th, sinh năm 1982 (Địa chỉ: Thôn 5, xã H, huyện A, tỉnh Đắk Lắk);
2. Ông Lò Mạnh C, sinh năm 1993 (Địa chỉ: Thôn 10, xã Ph, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).
- Người chứng kiến:
1. Ông Nguyễn Hồng H (Địa chỉ: Thôn 10, xã Ph, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk);
2. Ông Trịnh Ngọc Tr (Địa chỉ: Thôn 8, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).
( Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Danh L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2005. Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 11/10/2022, L sử dụng điện thoại Oppo, màu xanh, gắn sim số thuê bao 094.270.9445 liên lạc với một người nam giới tên thường gọi là Hưng (chưa xác định nhân thân, lai lịch), qua số thuê bao điện thoại 084.795.9000 hỏi mua ma túy Ketamin (Ma túy Khay) với số tiền 3.000.000 đồng. Hưng đồng ý bán và nói L chuyển tiền trước vào số tài khoản ngân hàng Agribank 5218281000843 mang tên “Lo Manh Cuong” và hẹn L đến khu vực ngã ba Chi Lăng, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột để giao ma túy. Sau đó, L sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank 5204205249495 chuyển vào tài khoản ngân hàng nêu trên 3.000.000 đồng rồi điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát số 47A-247.41 đến điểm hẹn để mua ma tuý. Tại đây, L được 01 nam thanh niên (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đến đưa cho L 01 (một) gói nylon bên trong chứa ma túy dạng Ketamine. Khi nhận được ma tuý, L chia một ít ma tuý ra tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, mục đích để sử dụng, rồi bỏ tờ tiền cùng số ma tuý còn lại vào túi nylon cất giấu trong người điều khiển xe ô tô đi về nhà. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, L điều khiển xe ô tô trên đường Quốc Lộ 14, thuộc thôn 3, xã Hòa Phú, thành phố Buôn Ma Thuột thì bị Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Cảnh sát điều tra về Ma tuý công an thành phố Buôn Ma Thuột kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong trong một phong bì có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hồng H, Trịnh Ngọc Tr, Trương Danh L và đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã Hòa Phú, thành phố Buôn Ma Thuột.
Tiến hành đưa Trương Danh L đi xét nghiệm chất ma túy tại Bệnh viện đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột, kết quả: L âm tính với ma túy.
Tại kết luận giám định số: 1022/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 1,6326 gam ma tuý, loại Ketamine;
+ Chất rắn dạng tinh thể trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 0,0205 gam ma tuý, loại Ketamine.
Tại kết luận giám định số 1058/KL-KTHS ngày 10/11/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Xe ôtô, nhãn hiệu HYUNDAI, số khung: KMHCU41CADU416990, số máy: G4FACU346937 không thay đổi.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSTP.BMT ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Trương Danh L, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo tại điểm g khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đề cập.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Danh L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 1,5881 gam chất ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine đựng trong 01 phong bì và bao gói số 1022/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;
Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1: 866109041044134, kèm sim số thuê bao 0983744996, 0942709445; tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng trong 01 phong bì niêm phong số 1022/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk;
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Th nhận sử dụng xe ô tô màu bạc, nhãn hiệu Hyundai, số loại Accent, biển số 47A-247.41, số khung: KMHCU41CADU416990, số máy: G4FACU346937 cùng giấy đăng ký xe và không đề cập xử lý hình sự với ông Th.
Bị cáo L không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên phạt bị cáo mức án phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo L không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Danh L khai nhận: Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 11/10/2022, tại xã Hoà Phú, thành phố Buôn Ma Thuột. Trương Danh L có hành vi cất giấu ma tuý với mục đích để sử dụng, thì bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lăk phối hợp với Cảnh sát điều tra về Ma tuý công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng khối lượng 1,6531 gam chất ma túy, loại Ketamine.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Trương Danh L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với mục đích phục vụ cho nhu cầu bản thân với lượng ma túy thu giữ được tổng cộng là 1,6531 gam chất ma túy, loại Ketamine. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;…”
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và làm mất ổn định trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được rằng, Ketamine là chất ma túy, đó là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Song do lối sống không lành mạnh, nghiện ngập, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Ketamine với mục đích phục vụ cho nhu cầu bản thân. HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm minh tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo; Tại phiên tòa bị cáo cũng thành khẩn khai báo, nhưng chưa thật sự ăn năn hối cải. Do đó HĐXX xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về các biện pháp tư pháp:
+ Đối với khối lượng 1,5881 gam chất ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine đựng trong 01 phong bì và bao gói số 1022/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1: 866109041044134, kèm sim số thuê bao 0983744996, 0942709445; tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng trong 01 phong bì niêm phong số 1022/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk là công cụ phương tiện Trương Danh L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp.
+ Đối với xe ô tô màu bạc, nhãn hiệu Hyundai, số loại Accent, biển số 47A-247.41, số khung: KMHCU41CADU416990, số máy: G4FACU346937 cùng giấy đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của ông Nguyễn Thế Th. Bị cáo L thuê chiếc xe ô tô này của ông Th làm phương tiện đi lại. Ngày 11/10/2022 L sử dụng chiếc xe này thực hiện hành vi phạm tội nhưng ông Th không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Th nhận sử dụng và không đề cập xử lý hình sự là phù hợp.
Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
- Đối với người nam giới có tên thường gọi là Hưng (chưa rõ lai lịch) và số điện thoại 084.795.9000, là người bán ma túy cho L, 01 đối tượng nam giới (chưa rõ lai lịch) là người giao ma tuý cho L và số tài khoản 5218281000843 ngân hàng Agribank mà L chuyển tiền để mua ma tuý. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định chủ tài khoản tên Lò Mạnh C, sinh năm 1993. Quá trình điều tra Lò Mạnh C khai nhận số tài khoản trên không sử dụng mà đã cho một người bạn tên thường gọi là Nam sử dụng vào tháng 6/2022. Riêng các đối tượng trên thì Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định nhân thân, lai lịch nên có công văn yêu cầu mạng viễn thông cung cấp thông tin số thuê bao đi động 084.795.9000 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phúc đáp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Buôn Ma Thuột tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với lần mua ma tuý ngày 10/10/2022, Trương Danh L mua mục đích sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo L chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Danh L: 03 năm (ba năm) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2022.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 1,5881 gam chất ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine, đựng trong 01 phong bì và bao gói số 1022/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1 866109041044134, kèm sim số thuê bao 0983744996, 0942709445; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng trong 01 phong bì niêm phong số 1022/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Đắk Lắk;
(Các tang vật có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/02/2023 giữa Công an Tp. Buôn Ma Thuột và Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Thế Th nhận sử dụng xe ô tô màu bạc, nhãn hiệu Hyundai, số loại Accent, biển số 47A-247.41, số khung: KMHCU41CADU416990, số máy: G4FACU346937 cùng giấy đăng ký xe và không đề cập xử lý hình sự với ông Nguyễn Thế Th.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Danh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) VŨ VĂN ĐỨC |