vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 13/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/10/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đ - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH IỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 13/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH IỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văng Thị Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

Ông Võ Hoàng Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Tuyền– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1986, tại: Cần Thơ (Có mặt);

Nơi cư trú: Số A, khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (chết) và bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm: 1965 (chết);

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/10/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm: 1957, (Có mặt);

Địa chỉ: Số B, khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

2. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1963, (Vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ 3, khu vực P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Hoàng N, sinh năm: 1991, (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số A, đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Ông Cao Ngọc H, sinh năm: 1972, (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số X, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ;

3. Ông Tô Hoàng M, sinh năm: 1982, (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/10/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phối hợp Công an phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuần tra địa bàn, khi lực lượng đi đến trước nhà số 60/6 đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát hiện bị cáo Nguyễn Ngọc Đ ném 01 gói nilon xuống đường nên đến kiểm tra. Bị cáo Đ thừa nhận gói nilon là ma túy của bị cáo nên bị lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm:

- 01 gói nilon không màu, hàn kín, chứa tinh thể không màu;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đỏ-đen, biển số 60Y5-8434, số khung 34759, số máy 034759;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh, không sim số bị nứt màng hình (đã qua sử dụng);

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen kèm sim số 0933997020 và sim số 0907558339 (đã qua sử dụng).

Tại Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ, kết luận: Tinh thể không màu trong gói niêm phong, có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Đ là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1564 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 25/10/2022, bị cáo hẹn gặp người bạn tên Khánh (không rõ họ tên, địa chỉ) tại hẻm 60 đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để cùng sử dụng ma túy. Sau khi liên lạc với Khánh, bị cáo lấy gói ma túy được người bạn tên Hùng (không rõ họ tên, địa chỉ) cho trước đó, cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 60Y5-8434 đến hẻm 60, đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Lợi để gặp Khánh. Khi bị cáo đang đứng trước hẻm 60, đường Trần Hoàng Na chờ Khánh, thì nhìn thấy lực lượng Công an tuần tra, do sợ nên bị cáo vứt gói ma túy xuống đường nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đỏ-đen, biển số 60Y5-8434 do bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên chủ sở hữu, bà N xác nhận đã bán xe mô tô trên cho người khác nhưng không thực hiện thủ tục sang tên. Hiện nay xe này do bà Nguyễn Thị Bích T (dì của bị cáo) mua để làm phương tiện đi lại. Ngày 25/10/2022, bị cáo Đ mượn xe rồi sử dụng vào việc phạm tội bà Thủy không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ninh Kiều đã thông báo tìm chủ sở hữu xe mô tô biển số 60Y5-8434 trên phương tiện thông tin theo quy định.

Đối với đối tượng tên Hùng cho bị cáo Đ gói ma túy và đối tượng tên Khánh hẹn bị cáo Đ cùng sử dụng ma túy, do bị cáo khai không biết rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ninh Kiều xác minh, xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSNK ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, là mầm mống phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ và sử dụng ma túy nên cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy gói ma túy thu giữ được niêm phong số 357/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ;

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen kèm sim số 0933997020 và sim số 0907558339 (đã qua sử dụng);

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh, không sim số bị nứt màng hình (đã qua sử dụng);

+ Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ninh Kiều 01 xe môtô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đỏ-đen, biển số 60Y5-8434, số khung 34759, số máy 034759 để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích T: Bà xác nhận đã mua xe mô tô biển số 60Y5-8434 để làm phương tiện đi lại, tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên bà không nhớ được người bán và không còn giữ giấy tờ mua bán. Ngày 25/10/2022, bị cáo mượn xe rồi sử dụng vào việc phạm tội bà không biết, do vậy, bà đề nghị cho bà được nhận lại xe.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, đồng thời, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự, xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 25/10/2022, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ tàng trữ trái phép 0,1564 gam ma túy (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và xã hội, đồng thời cũng là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được tác hại của ma túy và biết rõ việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm tính độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với đối tượng tên Hùng cho bị cáo Đ gói ma túy và đối tượng tên Khánh cùng sử dụng ma túy với bị cáo do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi đủ căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với ma túy thu giữ được niêm phong số 357/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ khối lượng 0,1564 gam (còn lại sau giám định 0,1057 gam) là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen kèm sim số 0933997020 và sim số 0907558339 (đã qua sử dụng) do bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh, không sim số bị nứt màng hình (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với xe 01 xe môtô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đỏ-đen, biển số 60Y5-8434, số khung 34759, số máy 034759 do bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên chủ sở hữu, bà N xác định đã bán xe mô tô trên cho người khác nhưng không thực hiện thủ tục sang tên. Bà Nguyễn Thị Bích T khai nhận đã mua lại xe mô tô biển số 60Y5-8434 để làm phương tiện đi lại, tuy nhiên, bà T không xác định được người bán và không cung cấp được giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ninh Kiều đã thông báo tìm chủ sở hữu xe mô tô biển số 60Y5-8434 trên phương tiện thông tin ngày 03/11/2022 nên chưa đủ thời gian theo quy định. Do đó, giao lại xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Ninh Kiều tiếp tục tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 25/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ được niêm phong số 357/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ khối lượng 0,1564 gam (còn lại sau giám định 0,1057 gam).

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen kèm sim số 0933997020 và sim số 0907558339 (đã qua sử dụng);

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh, không sim số bị nứt màng hình (đã qua sử dụng);

+ Giao lại Cơ quan điều tra, Công an quận Ninh Kiều 01 xe môtô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đỏ-đen, biển số 60Y5-8434, số khung 34759, số máy 034759 để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định.

(Các vật chứng kèm theo quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKSNK ngày 16/01/2023 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2023).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ