- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ hình sự tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/…
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Toàn
Ông Trần Ngọc Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Chu Văn B, sinh ngày 18/8/1986 tại thành phố Hải Phòng; ĐKHKTT: thôn B, T, Thủy Nguyên, Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Gác 2 nhà số 33 T, Phan Bội Châu, Hồng Bàng, Hải Phòng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Chu Văn C và bà Trần Thị M; gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Nguyễn Thị Thanh X; có 01 con sinh năm: 2008; tiền sự: không; tiền án: có 02 tiền án; Bản án số 204 ngày 10/11/2009 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Bản án số 34 ngày 26/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 01/8/2022 thi hành xong án phạt tù về địa phương ( đều chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2023 đến ngày 21/02/2023 chuyển tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 11h00’ ngày 14/02/2023, Chu Văn B đi bộ một mình từ nhà đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, B gặp và hỏi mua 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng ma túy "đá" của một người nữ giới không quen biết. Người nữ giới đồng ý nhận tiền rồi đưa cho B 01(một) túi nilon mép dán màu xanh trong chứa ma túy "đá", B nhận và mang về nhà tại gác 2 số 33 T, P, Hồng Bàng, Hải Phòng để sử dụng. Về đến nhà, B lấy một ít ma túy trong túi nilon vừa mua được ra, cho vào ống tẩu thủy tinh gắn ở chai nhựa (bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá) của B rồi châm lửa sử dụng một mình bằng hình thức hút. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, lực lượng Công an phường Phan Bội Châu tiến hành kiểm tra phát hiện B có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy và thu giữ tang vật gồm: 01 túi nilon mép dán màu xanh trong chứa chất tinh thể màu trắng, nghi ma túy (mẫu KT 01); 01 chai nhựa có nắp màu đỏ gắn 01 ống hút bằng nhựa, 01 ống tẩu thủy tinh dính tạp chất màu nâu, nghi ma túy (mẫu KT 02). Sau đó, lực lượng Công an đưa Chu Văn B cùng tang vật về trụ sở Công an phường Phan Bội Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Bản Kết luận giám định số 177/KL-KTHS(MT) ngày 20/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu KT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0.08 gam là loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Chu Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng gồm: 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT-A/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
Tại Bản Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 12/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Chu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Chu Văn B khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Chu Văn B và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Văn B với mức án từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định; căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT-A/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
2
Về án phí: Bị cáo Chu Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh
Lời khai của bị cáo Chu Văn B tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/02/2023 tại số nhà 33 gác 2 Tam Bạc, phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Chu Văn B đã có hành vi cất giữ 01 túi nilon mép dán màu xanh trong chứa chất tinh thể màu trắng. Kết luận giám định số 177/KL-KTHS(MT) ngày 20/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu KT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0.08 gam là loại Methamphetamine”. Do bị cáo có tiền án về tội Tàng trữ trái phép ma túy chưa được xóa án, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Chu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:
Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Trong đó có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép ma túy là yếu tố định tội cho lần phạm tội này. Tiền án số 204 ngày 10/11/2009 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án được tính là tình tiết tăng nặng
3
tái phạm đối với lần phạm tội này theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Song xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự và là căn cứ để Hội đồng xét xử khi lượng hình đối với bị cáo. Do bị cáo không có thu nhập và công việc ổn định nên không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Vật chứng là 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT-A/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, Hải Phòng).
Trong vụ án này người bán ma túy cho bị cáo Chu Văn B chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở sẽ xem xét xử lý sau, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Văn B 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023.
Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 177MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Chu Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Hồng Bàng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Hồng Bàng;
- Chi cục THADS quận Hồng Bàng;
- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Hồng Giang
- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn Trần Ngọc Hải
Nguyễn Hồng Giang
6
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |