vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2022. Vật chứng vụ án: Tịch tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của đối tượng Nvà giám định viên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo N Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BTL
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 27/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BTL, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thùy

Ông Nguyễn Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký của Tòa án nhân dân quận BTL, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận BTL, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023 Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận BTL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo: N - Sinh năm 1988; HKTT và nơi ở: Số 629 X, phường Y, quận Z, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc : Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T và bà: H; Vợ: M (ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự : Không; Nhân thân: 02 tiền án đã được xóa án tích; Ngày 08/12/2009 Tòa án nhân dân quận B xử 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Hủy hoại tài sản; ngày 31/3/2017 Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh N xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 10/12/2022 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 10 tháng 12 năm 2022, tổ công tác Công an phường T, BTL, Hà Nội bắt quả tang N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực đầu ngõ 114 đường N, phường B, BTL, Hà Nội, thu giữ trong túi quần của N01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 4x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng N khai là ma túy mang đi để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa N về trụ sở để làm rõ.

Thu giữ của N: 01 gói nilon màu trắng kích thước 4x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng samsung ZFUP 4, màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp số thuê bao 0343388**

Ngày 10/12/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận BTL ra Quyết định trưng cầu giám định số 305 đối với số ma túy thu giữ của N.

Kết luận giám định số 8345/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 2,026gam.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 09/12/2022, N đi từ nhà trọ ở khu vực Quận 12, TP Hồ Chí Minh đến khu vực quận Tân Bình (không nhớ địa chỉ cụ thể) gặp và mua 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 4x2,5cm chứa ma túy “đá” của một người tên Phúc (không rõ nhân thân, lai lịch) hết 800.000đồng. Sau khi mua, Ncất gói ma túy vào túi quần rồi về nhà trọ. Đến sáng ngày 10/12/2022 N đi từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội. Khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, N mang theo gói ma túy “đá” trong túi quần đi xe taxi từ phường Y, Z, Hà Nội đến khu vực đầu ngõ 114 đường N, phường N 2, BTL, Hà Nội để gặp một người phụ nữ quen biết trên mạng (không xác định được nhân thân, lai lịch) để cùng sử dụng ma túy. Khi N đang chờ ở đầu ngõ 114 đường N thì bị tổ công tác công an phường T phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng như trên.

Tại cơ quan điều tra, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, nguồn gốc số tiền mua ma túy là do lao động mà có. Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của N có kết quả dương tính (có sử dụng ma túy).

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N và người phụ nữ hẹn N đến cùng sử dụng ma túy: quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với vật chứng là thu giữ của N: 01 gói nilon chứa ma túy, 01 điện thoại di động kiểu dáng samsung ZFUP 4, màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp số thuê bao 0343388696 là vật chứng nên chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận BTL để xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 6/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận BTL đã truy tố: N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận BTL trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 6/3/2023 và đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt: Bị cáo N từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù; Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động kiểu dáng samsung ZFUP 4, màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong không liên quan đến vụ án và miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận BTL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận BTL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, phù hợp với bản kết luận giám định số 8345/KLGĐ- PC09 ngày 18/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ 10 phút ngày 10/12/2022, tại khu vực khu vực ngõ 114 đường N, phường N 2, quận BTL, Hà Nội, N đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,026 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T, quận BTL, Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo N đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành, có thái độ ăn năn hối cải. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận BTL gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy đã qua giám định, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy theo Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động kiểu dáng samsung ZFUP 4, màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, không liên quan đến vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Khoản 2 điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2022.

Vật chứng vụ án: Tịch tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của đối tượng Nvà giám định viên.

- Trả lại bị cáo N 01 điện thoại di động kiểu dáng samsung ZFUP 4, màu xanh đã qua sử dụng lắp số thuê bao 034433886** không kiểm tra chất lượng bên trong. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận BTL theo biên bản bàn giao vật chứng số 105/23 ngày 06/3/2023.

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ