- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 18-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh Quy - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 18/5/2023, tại Nhà văn hoá thôn Trai Trang, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2023/HSST-TL ngày 17/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 05/5/2023, đối với bị cáo:
* Lò Văn T2, sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Bản P, xã M1, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn U và con bà Lò Thị T1; có vợ là Quàng Thị P1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T2 theo chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1959, trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 11/01/2023, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã T phối hợp với Công an huyện Y tuần tra phát hiện bắt quả tang Lò Văn T2, sinh năm: 1995, ở bản P, xã M1, huyện M, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: Tại túi áo khoác phía trước bên phải T2 đang mặc có 01 túi nilon màu xanh, kích thước (10 x 20) cm, bên trong có chứa 01 gói giấy màu trắng, kích thước (1,5 x 1,5) cm, bên trong gói giấy này chứa chất dạng cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1). T2 khai là ma túy loại heroine và 01 xi lanh bằng nhựa, màu trắng, kích thước 12 cm (niêm phong ký hiệu M2).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn T2 tại Tổ dân phố Phố Bần, phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 97/KL-KTHS(MT) ngày 14/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có tổng khối lượng là: 0,206g (không phẩy hai không sáu gam) là ma tuý, loại Heroine. Hoàn lại 0,184g (không phẩy một tám bốn gam) Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu M1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Y cùng với chiếc xi lanh bằng nhựa màu trắng.
Quá trình điều tra, Lò Văn T2 khai nhận: Bản thân đã sử dụng ma túy loại Heroine từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Khoảng 09 giờ ngày 11/01/2023 T2 mang theo 01 xi lanh bơm kim tiêm, đón xe khách từ ngã tư Phố Nối đến cổng làng N, xã T, huyện Y với mục đích mua heroine để sử dụng. Tại đây, T2 gặp người đàn ông khoảng 50 tuổi (T2 không biết tên, tuổi và địa chỉ). T2 đã đưa 400.000 đồng để mua ma túy và được người này đưa cho 01 túi lilon màu xanh bên trong có chứa ma túy, sau đó người này bỏ đi. T2 cầm gói ma túy đi vào khu vực nghĩa trang thôn N để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Đối với người đàn ông khoảng 50 tuổi đã bán ma túy cho T2, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
Quá trình điều tra Lò Văn T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 42/CT-VKS-YM ngày 14/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lò Văn T2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lò Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, xử phạt bị cáo T2 hình phạt thấp nhất của khung hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T2 từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 Tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định số 97/KLKHTS (MT) ngày 14/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 11/01/2023, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn T2 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,206g gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo T2 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 0,206 gam ma tuý loại Heroin với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lò Văn T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn T2 là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: Bị cáo T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, bị cáo thuộc gia đình hộ cận nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 268/GCN-HN-HCN đề ngày 09/12/2022 của Uỷ ban nhân dân xã M1, huyện M, tỉnh Sơn La nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, vỏ túi nilon, mảnh giấy, bơm xi lanh là vật cấm tàng trữ, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai số ma tuý mà Cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo, bị cáo mua của người đàn ông khoảng 50 tuổi, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn T2 thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên toà bị cáo đề nghị xin miễn án phí nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T2 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023.
4. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì mẫu vật hoàn lại sau giám định số 97/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,184g ma tuý, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1; 01 vỏ túi nilon mầu xanh; 01 mảnh giấy mầu trắng gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 bơm kim tiêm xi lanh bằng nhựa, dài 12cm (loại 03cc), trong niêm phong ký hiệu M2.
(Vật chứ ng trên đã chuyển Chi cục Thi hà nh á n Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngà y 26/4/2023).
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T2.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/5/2023)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - Công an huyện Y; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THA DS huyện Y; - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |