- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Vì Văn Phương + đp - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 25 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Anh Văn (nguyên là giáo viên) và bà Lò Thu Hằng (Bí thư đoàn thị trấn Yên Châu).
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Dục – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn P Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vì Văn P, sinh 17/6/2004; tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản B, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn T và bà Lò Thị N, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2023 cho đến nay, có mặt.
2. Sồng Xuân H, sinh 21/9/2005 tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 08/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Sồng Xuân K và bà Vì Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2023 đến nay, có mặt.
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Sồng Xuân H: Ông Vì Văn H(Cậu ruột), nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Sồng Xuân H: Ông Đặng Văn Quảng, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị N, trú tại Bản B, xã C, huyện Y, tỉn Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 4 năm 2023 tại bản Keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Đồn Biên phòng Chiềng On - BĐBP tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Vì Văn P – Sinh năm: 2004; Trú tại: Bản B, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La và Sồng Xuân H – Sinh năm: 2005; Trú tại: Bản N, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 06 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY và 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng, do Sồng Xuân H tự giác lấy trong túi áo ngực bên trái giao nộp cho tổ công tác; 01 Xe máy nhãn hiệu ARROW-RD THAILAN. TECH, màu đen, không BKS.
Ngày 17/4/2023 Đồn Biên phòng Chiềng On - BĐBP tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh và xác định khối lượng số ma túy thu giữ của Vì Văn P và Sồng Xuân H. Dùng cân điện tử cân tách bì toàn bộ 06 viên nén hình tròn màu hồng được gói trong mảnh nilon màu trắng có khối lượng là 0,6 gam, trích 2 viên nén màu hồng có khối lượng 0,22g làm mẫu giám định ký hiệu P1. Còn lại 04 viên có khối lượng 0,38 gam ký hiệu L1 nhập kho vật chứng. Cân tách bì toàn bộ cục bột màu trắng đựng trong 01 mảnh nilon màu trắng có khối lượng 0,38 gam; trích 0,29g làm mẫu giám định ký hiệu P2. Còn lại 0,09g ký hiệu L2 nhập kho vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định, số: 812/KLMT ngày 17/4/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự (PC 09) – Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là P1 = 0,22 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu P2 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là P2 = 0,29 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,6 gam, Loại Methamphetamine và 0,38g loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Vì Văn P và Sồng Xuân H khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 16/4/2023 Vì Văn P cầm theo số tiền 100.000 đồng điều khiển xe máy, không gắn BKS của gia đình đi từ nhà ông bà của P tại Bản N, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La đến nhà của Sồng Xuân H, trú cùng bản để rủ H đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng. H đồng ý, đồng thời điều khiển xe máy của P chở P ngồi đằng sau đi theo đường Quốc lộ 6C lên ngã ba bản Kim Chung 1, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu sau đó rẽ lên bản Keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu. Khi lên đến khu vực biên giới, H và P gặp một người phụ nữ dân tộc Mông (H và P không biết nhân thân, lai lịch) H hỏi người phụ nữ có ma túy bán không? Người phụ nữ dân tộc Mông trả lời có. P nói người phụ nữ bán cho P 50.000 đồng Heroine và 50.000 đồng Methamphetamine. P lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc trên người tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho người phụ nữ. Người phụ nữ nhận đồng thời lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 06 viên Methamphetamine và 01 gói nilon màu trắng bên trong là Heroine. P nhận gói ma túy từ người phụ nữ rồi đưa gói ma túy cho H cầm. H nhận gói ma túy rồi cất gói ma túy vào túi áo ngực bên trái đang mặc trên người. P xin thêm người phụ nữ một ít ma túy để sử dụng, người phụ nữ đồng ý và lấy 01 viên Methamphetamine và 1 ít Heroine đưa cho P. Có được ma túy P và H cùng nhau sử dụng bằng hình thức đốt, hít tại bụi cây ven đường ngay gần đó. Sử dụng ma túy xong, P điều khiển xe máy chở H ngồi đằng sau cầm theo gói ma túy vừa mua được. Khi đi đến khu vực bản keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng Chiềng On - BĐBP tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 32/CT-VKSYC ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố: Vì Văn P và Sồng Xuân H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vì Văn P và Sồng Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn P từ 20 đến 26 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sồng Xuân H từ 16 đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì giấy niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Vì Văn P và Sồng Xuân H - Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 16/4/2023 tại bản keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 10 giờ 20 ngày 17/4/2023 tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu trắng + Mẫu từ L1 + L2 = 0,47 gam”;
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 Xe mô tô nhãn hiệu ARROW-RD THAILAN.TECH, không gắn biển kiểm soát, không chìa khóa, không gương chiếu hậu, không hộp xích, không đèn pha, xe cũ nát đã qua sử dụng.
Án phí: Bị cáo Sồng Xuân H là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Bị cáo Vì Văn P phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La Đặng Văn Quảng bào chữa cho bị cáo Sồng Xuân H với các nội dung: Bị cáo H trong quá trình điều tra, truy tố, và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo tuổi đời còn trẻ, hiểu biết pháp luật hạn chế, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án từ 12 đến 16 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp cho bị cáo Sồng Xuân H: Bị cáo còn trẻ tuổi, hiểu biết pháp luật hạn chế, thành khẩn khai báo, gia đình khó khăn đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Ý kiến người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa bà Lò Thị N cho biết chiếc xe mô tô là xe gia đình mua của cửa hàng sửa chữa xe máy cũ để đi nương và đã sử dụng lâu, xe cũ nát, bị cáo P đã sử dụng để làm P tiện đi mua ma túy, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của hai bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/4/2023, Vì Văn P và Sồng Xuân H đã mua trái phép chất ma túy với giá 100.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hồi 11 giờ 10 phút cùng ngày khi P và H mang theo ma túy đến khu vực bản Keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Chiềng On - BĐBP tỉnh Sơn La bắt quả tang, thu giữ 0,60 gam Methamphetamine và 0,38 gam Heroine. Tổng khối lượng ma túy là 0,98 gam. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một số điều của Bộ luật hình sự: Tổng khối lượng Heroine và Methamphetamine thu giữ của các bị cáo là 0,60 gam + 0,38 gam = 0,98 gam (Dưới 05 gam).. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa P, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của các bị cáo thấy rằng các bị cáo có nhân thân xấu, đều là đối tượng nghiện ma tuý. Các bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Sồng Xuân H là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế. Bị cáo Vì Văn P có ông ngoại là ông Lò Văn Đanh được Nhà nước tặng 03 giấy chứng nhận kỷ niệm chương là quân tình nguyện Việt Nam tại Lào vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu và công tác tại chiến trường nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Sồng Xuân H khi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy mới 17 tuổi 06 tháng 26 ngày. Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị xử mức án từ 16 đến 22 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội khi còn là vị thành niên. Để đảm bảo khoan hồng và xét xử bị cáo đối với người chưa thành niên phạm tội, trọng lượng ma túy không lớn. Cần căn cứ các Điều 90, 91, 98 và Điều 101 để áp dụng và xử phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vì Văn P là người có hành vi rủ rê, lôi kéo Sồng Xuân H (sinh ngày 21/9/2005, tính đến ngày 16/4/2023 Sồng Xuân H mới đạt 17 tuổi 6 tháng 26 ngày) cùng thực hiện hành vi phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo đều có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đều là lao động tự do, bản thân các bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng: Đối với 01 Phong bì giấy niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Vì Văn P và Sồng Xuân H - Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 16/4/2023 tại bản keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 10 giờ 20 ngày 17/4/2023 tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu trắng + Mẫu từ L1 + L2 = 0,47 gam”. Xét thấy đây là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Xe mô tô nhãn hiệu ARROW-RD THAILAN.TECH, không gắn biển kiểm soát, không chìa khóa, không gương chiếu hậu, không hộp xích, không đèn pha, xe cũ nát đã qua sử dụng. Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đề nghị xin lại và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét chiếc xe không có giấy tờ chứng minh chủ sở hữu hợp pháp, xe đã cũ nát không đảm bảo lưu thông và là công cụ P tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Sồng Xuân H và Vì Văn P, do P và H không biết tên, tuổi, địa chỉ. Việc trao đổi mua bán ma túy chỉ có P, H và người phụ nữ đó biết, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không đủ điều kiện để điều tra xác minh làm rõ và xử lý.
Về án phí: Bị cáo Sồng Xuân H là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Vì Văn P phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vì Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn P 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Sồng Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Sồng Xuân H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì giấy niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Vì Văn P và Sồng Xuân H - Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 16/4/2023 tại bản keo Muông, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La niêm phong hồi 10 giờ 20 ngày 17/4/2023 tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu trắng + Mẫu từ L1 + L2 = 0,47 gam Methamphetamine.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 Xe mô tô nhãn hiệu ARROW-RD THAILAN.TECH, không gắn biển kiểm soát, không chìa khóa, không gương chiếu hậu, không hộp xích, không đèn pha, xe cũ nát đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2023 giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Sồng Xuân H.
Bị cáo Vì Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Yên Châu; - Công an huyện Yên Châu; - Chi cục THADS huyện Yên Châu; - Trại giam; - THAHS; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Quang |