vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Xuân Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Xuân Th TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 16/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- THành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Đức Dương.

Ông: Hoàng Văn Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 và Phòng 101, Công an huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/HSST ngày 21/4/2023 theo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 17/5/2023; Thông báo thay đổi ngày, giờ mở phiên tòa số 02/2023/TB-TA ngày 30/5/2023, đối với bị cáo:

Tô Xuân Th, sinh ngày 02/10/1968, tại xã TN, huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn DH, xã TN, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Xuân Th1 và bà Vũ Thị Th2 (đều đã chết); bị cáo có vợ là Lý Thị H và có 2 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1992, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T1, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người làm chứng:

Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1958, trú tại Thôn ON; anh Đỗ trung H, sinh năm 1992, trú tại Thôn QD, đều thuộc xã DQ, huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Phạm Hải Tr, Cán bộ Công an huyện T1, tỉnh T2, hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, tại đoạn đường liên xã thuộc khu vực trước cửa nhà bà Bùi Thị Th3, sinh năm x, thôn ON, xã DQ, huyện T1, tỉnh T2, Công an huyện T1 phát hiện, bắt quả tang Tô Xuân Th đang cất giữ trái phép 2 gói Heroine có khối lượng 0,1973 gam trong túi áo khoác bên trái, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra, Tô Xuân Th khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ, ngày 24/02/2023, Tô Xuân Th đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực thôn TL, xã DQ, huyện T1, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Th gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 2 gói Heroine được gói bằng giấy tráng kim màu trắng và gói chung bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận gói ma túy, Th cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về. Khi đến đoạn đường liên xã, khu vực trước cửa nhà bà Bùi Thị Th3 thì Th bị Công an huyện T1 phát hiện, bắt quả tang đang cất giấu trái phép 2 gói Heroine như đã nêu trên.

Ngày 24/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tô Xuân Th tại thôn DH, xã TN, huyện T1, tỉnh T2 không phát hiện thu giữ gì.

Quá trình điều tra, bị cáo Tô Xuân Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời khai của những người làm chứng:

Ông Đỗ Văn N và anh Đỗ trung H trình bày: Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 24/02/2023, ông Nuôi và anh Hiếu được chứng kiến việc Công an huyện T1 đang yêu cầu một người đàn ông làm việc do nghi ngờ liên quan đến ma túy. Qua giải thích người này khai tên Tô Xuân Th. Th khai nhận đang tàng trữ ma túy trên người. Cơ quan Công an mời Th và người chứng kiến về UBND xã DQ làm việc, tại đây, ông N và anh H nhìn thấy Th tự giác lấy từ túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc ra một gói được gói bên ngoài được gói bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, mở ra bên trong có chứa 02 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, trong cùng chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận đây là ma túy của Th mua về để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 266/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1973 gam (không phẩy một nghìn chín trăm bảy mươi ba gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSTH ngày 20/4/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Tô Xuân Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực Hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tô Xuân Th đều khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, tại đoạn đường liên xã, khu vực trước cửa nhà bà Bùi Thị Th3, thôn ON, xã DQ, huyện T1, tỉnh T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 phát hiện, bắt quả tang Tô Xuân Th đang cất giữ trái phép 2 gói Heroine có khối lượng 0,1973 gam trong túi áo khoác bên trái, mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo Tô Xuân Th phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản khám xét; Lời khai của những người làm chứng và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Tô Xuân Th là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 2 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1973 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

c, Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam;

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả Hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Tô Xuân Th là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, Hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Th đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho Th, Th khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực thôn TL, xã DQ, huyện T1, tỉnh T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,1645 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 266/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh T2 cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Tô Xuân Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/02/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 0,1645 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 266/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh T2.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/4/2023 tại Chi cục thi Hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tô Xuân Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 16/6/2023./.

Cỡ chữ