- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Mai phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị M phạm tội “Đánh bạc”,
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày: 28-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Hồ Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Mộng Linh
2. Ông hạm Văn V
- Thư ký phiên tòa: Ông hạm Hữu Văn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông hạm Văn Xem - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh hú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 43/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Nguy n Thị M, sinh năm: 1961.
+ Nơi sinh: tỉnh Bến Tre;
+ Nơi đăng ký thường trú: số 131/2A khu phố A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bến Tre; ch ở: không có ch ở nhất định bị cáo khai tại phiên tòa .
+ Nghề nghiệp: không;
+ Trình độ học vấn: không biết chữ;
+ Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
+ Con ông Nguy n Văn Đ chết) và bà Nguy n Thị S (chết);
+ Hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng nhưng có con chung với V Văn B và Nguy n Văn E bị cáo khai tại phiên tòa .
+ Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1976, nh nhất sinh năm 1982 bị cáo khai tại phiên tòa và được thể hiện tại phần lý lịch của Bản án hình sự số 04/HSST ngày 05/12/1997 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre mà bị cáo đã chấp hành trước đây .
+ Tiền án: không có;
+ Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/QĐ-X V HC ngày 14 tháng 6 năm 2021 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện P, tỉnh Bến Tre, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng chưa nộp phạt ;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi kh i nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ng i c quy n l i ngh a v liên quan n v án:
+ Hu nh Thanh T, sinh năm 1984, địa chỉ: số 188/2, ấp M, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre có đơn xin v ng mặt .
+ Nguy n Hu nh húc T, sinh năm 2002, địa chỉ: số 366/14B đường C, phường B, Quận T, Thành phố C có đơn xin v ng mặt .
+ Hồ Thiện T1, sinh năm 1985, địa chỉ: số 46/4, ấp Q, thị trấn T, huyện P, tỉnh Bến Tre có đơn xin v ng mặt .
- Ng i làm ch ng:
+ Nguy n Văn C, sinh năm 1981; địa chỉ: số 17/4, ấp B, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bến Tre v ng mặt .
+ Hu nh Thị Ngọc B, sinh năm 1981; địa chỉ: số 59/2, ấp B, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bến Tre v ng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 29/10/2022, tại quán cà phê Ngọc Nhi thuộc ấp A, thị trấn T, huyện , tỉnh Bến Tre do bà Hu nh Thị Ngọc B làm chủ Công an thị trấn T, huyện , tỉnh Bến Tre b t quả tang Hu nh Thanh T, Nguy n Thị M, Nguy n Hu nh Phúc T và Hồ Thiện T1 tham gia đánh bạc theo hình thức đánh bài binh ấn độ (bài binh 06 lá) được thua bằng tiền; ban đầu sòng bài chia làm 03 tụ, gồm: T, M và T1 m i người 01 tụ do T làm cái, m i ván đặt tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Khi chơi được 03 ván thì có Hồ Thiện T1 đến cùng chơi, lúc này sòng bài được chia làm 04 tụ vẫn do Truyền làm cái, sòng bài di n ra đến 20 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị trấn T b t quả tang.
Tang vật thu giữ: 01 bộ bài tây loại bài tây 52 lá và số tiền 3.650.000 đồng gồm:
- Thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 500.000 đồng;
- Thu giữ trên người của Nguy n Thị M số tiền là 100.000 đồng,
- Thu giữ trên người Hu nh Thanh T là 500.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím màu đen;
- Thu giữ trên người của Nguy n Hu nh húc T là 1.750.000 đồng;
- Thu giữ trên người của Hồ Thiện T1 là 800.000 đồng.
Tất cả cùng thống nhất cách thức chơi bài như sau: Người chơi sử dụng loại bài tây loại 52 lá, tụ làm cái s chia bài cho những người chơi, chia m i tụ 06 lá bài. Sau khi được chia 06 lá bài người chơi s p xếp thành 02 chi (01 chi trên và 01 chi dưới , chi dưới phải lớn hơn hoặc bằng chi trên, m i chi gồm 03 lá bài, rồi so sánh với bài của tụ làm cái để xác định th ng thua với tụ làm cái; cách xác định th ng thua như sau: tụ nào có 02 chi lớn hơn 02 chi của tụ làm cái thì th ng ngược lại tụ nào có 02 chi nh hơn 02 chi của tụ làm cái thì thua, nếu th ng 01 chi thua 01 chi với tụ làm cái thì hòa hoặc nếu th ng 01 chi và hòa 01 chi với tụ làm cái thì c ng th ng. Cách xác định chi bài lớn, nh như sau: Nếu chi nào có 03 lá bài tây bồi , đầm Q, già K được gọi là ba cào thì lớn nhất tụ nào có 03 lá bài tây thì phải s p về 01 chi , kế đến là 09 nút theo thứ tự giảm dần cho đến 01 nút và nh nhất là bù bù là t ng số nút trên 03 lá bài 10 nút, 20 nút hoặc 30 nút .
Số tiền mà Hu nh Thanh T, Nguy n Thị M, Nguy n Hu nh húc T và Hồ Thiện T1 mang theo dùng để đánh bạc được, thua bằng tiền như sau:
- Nguy n Thị M mang theo số tiền 120.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị b t quả tang, M thua 20.000 đồng, còn lại 100.000 đồng bị thu giữ.
- Hu nh Thanh T mang theo số tiền 550.000 đồng để tham gia đánh bạc với vai trò làm cái. Khi bị b t quả tang, T thua 50.000 đồng, còn lại 500.000 đồng bị thu gữ.
- Nguy n Hu nh húc T mang theo số tiền 2.250.000 đồng, nhưng chỉ sử dụng 500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Khi bị b t quả tang, T thua 60.000 đồng nhưng chưa chung. Số tiền thu giữ trên chiếu bạc 500.000 đồng là tiền của Thuận dùng vào việc đánh bạc. Đối với số tiền thu giữ trên người của Thuận là 1.750.000 đồng không dùng mục đích đánh bạc.
- Hồ Thiện T1 mang theo số tiền 720.000 đồng để tham gia đánh bạc. Khi bị b t quả tang, T1 th ng 80.000 đồng. Số tiền 800.000 đồng thu giữ trên người của Thanh có 720.000 đồng dùng vào việc đánh bạc và 80.000 đồng là tiền th ng bạc.
Như vậy, t ng số tiền mà Hu nh Thanh T, Nguy n Thị M, Nguy n Hu nh Phúc T và Hồ Thiện T1 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.900.000 đồng, gồm: 500.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc + 500.000 đồng của T + 100.000 của M + 800.000 đồng của T1).
Qua kết quả điều tra xác định được như sau: Ngày 14/6/2021, Nguy n Thị M bị Trưởng Công an thị trấn T, huyện ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt chưa được xóa tiền sự nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. T ng số tiền Nguy n Thị M cùng các đối tượng nêu trên dùng để đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh ấn độ bài binh 06 lá) được thua bằng tiền là 1.900.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS, ngày 27/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh hú đã truy tố bị cáo Nguy n Thị M về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu quan điểm giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguy n Thị M từ 09 chín tháng đến 12 mười hai tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng vào việc đánh bạc là 1.900.000 đồng đã bị thu giữ lúc b t quả tang .
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây, loại 52 lá đã qua sử dụng .
Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2023.
+ Hoàn trả cho Nguy n Hu nh húc T số tiền 1.750.000 đồng, do số tiền này Nguy n Hu nh húc T không dùng vào mục đích đánh bạc.
+ Ghi nhận do xác định không có liên quan đến vụ án nên trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh hú đã trả lại cho Hu nh Thanh T 01 điện thoại di động Nokia màu đen (đã bị thu giữ lúc b t quả tang).
Đối với hành vi đánh bạc của Hu nh Thanh T, Nguy n Hu nh húc T và Hồ Thiện T1 qua điều tra xác định các đối tượng không có tiền án, tiền sự và số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không phạm tội. Đối với Nguy n Văn C không tham gia đánh bạc, chỉ đến xem nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với Hu nh Thị Ngọc B là chủ quán cà phê Ngọc Nhi có hành vi để cho các con bạc sử dụng địa điểm để đánh bạc nhưng không nhận các lợi ích từ những người tham gia đánh bạc nên không phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguy n Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin xem xét giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án căn c vào các tài liệu trong hồ sơ v án và k t quả tranh t ng tại phiên tòa Hội ồng xét xử nhận thấy nh sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh hú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh hú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hu nh Thanh T, Nguy n Hu nh húc T, Hồ Thiện T1 và người làm chứng là Nguy n Văn C, Hu nh Thị Ngọc B v ng mặt, bị cáo không có ý kiến, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục phiên tòa do sự v ng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Thấy rằng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, việc v ng mặt của những tham gia tố tụng này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên phiên tòa vẫn tiếp tục xét xử.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguy n Thị M thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật; lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguy n Thị M có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị xử phạt số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/QĐ-X V HC ngày 14 tháng 6 năm 2021 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện P, tỉnh Bến Tre nhưng chưa nộp phạt, chưa chấp hành Quyết định. Khoảng thời gian từ 19 giờ 50 phút đến 20 giờ 00 phút ngày 29/10/2022 tại ấp A, thị trấn T, huyện , tỉnh Bến Tre, Nguy n Thị M có hành vi đánh bài binh ấn độ 06 lá bài bình 06 lá được thua bằng tiền, với t ng số tiền dùng để đánh bạc là 1.900.000 đồng. Do đó bản Cáo trạng 36/CT-VKS ngày 27/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh hú đã truy tố bị cáo Nguy n Thị M là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Ng i nào ánh bạc trái phép d ới bất kỳ hình th c nào
c thua bằng ti n hay hiện vật c giá trị từ 5.000.000 ồng n d ới 50.000.000 ồng hoặc d ới 5.000.000 ồng nh ng ã bị xử phạt vi phạm hành chính v hành vi này hoặc hành vi quy ịnh tại Đi u 322 của Bộ luật này hoặc ã bị k t án v tội này hoặc tội quy ịnh tại Đi u 322 của Bộ luật này ch a
c x a án tích mà còn vi phạm thì bị phạt ti n từ 20.000.000 ồng n 100.000.000 ồng phạt cải tạo không giam giữ n 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng n 03 năm”.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Nguy n Thị M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự công cộng, gây hoang mang, bất bình trong đời sống của nhân dân tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo ý thức được đánh bạc là một tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm sát phạt chiếm đoạt tiền của nhau, điều đó đã thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguy n Thị M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
6 Về xác định tiền án của bị cáo: Căn cứ vào Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 124/GCN ngày 28/6/1998 của Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù đối với Bản án hình sự số 04/HSST ngày 05/12/1997 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre ngày 28/6/1998. Căn cứ Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 316/GXN-CCTHADS ngày 22/3/2023 và Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 349/GXN-CCTHADS ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú xác nhận kết quả thi hành án của Nguy n Thị M theo Bản án hình sự số 04/HSST ngày 05/12/1997 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh hú như sau: Nguy n Thị M chưa thi hành nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 50.000 đồng năm mươi ngàn đồng và nộp phạt số tiền là 1.000.000 đồng một triệu đồng ; buộc bà M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 50.000 đồng năm mươi ngàn đồng và nộp phạt số tiền là 1.000.000 đồng một triệu đồng . Ngày 14/6/2021, Nguy n Thị M bị Trưởng Công an thị trấn T, huyện P, tỉnh Bến Tre, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng chưa nộp phạt , ngày 29/10/2022, Nguy n Thị M tiếp tục phạm tội vì có hành vi đánh bạc tại ấp A, thị trấn T, huyện , tỉnh Bến Tre bị khởi tố bị can. Theo Bản án hình sự số 04/HSST ngày 05/12/1997 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh hú thì số tiền đánh bạc của Nguy n Thị M là 4.082.000 đồng. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì trong lần phạm tội này, bị cáo Nguy n Thị M được xác định là không có tiền án.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguy n Thị M có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 30/7/1981, bị y ban nhân dân huyện P đưa đi cải tại tập trung 60 sáu mươi ngày về hành vi buôn bán hàng cấm; ngày 05/12/1997 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre xử phạt 12 mười hai) tháng tù về tội “đánh bạc”; ngày 16/02/2000 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre khởi tố bị can về tội “Đánh bạc”, đến ngày 20/5/2000 được Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre đình chỉ điều tra bị can theo Nghị quyết 32/1999/QH10, ngày 21/12/1999 của Quốc Hội. Hiện tại bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc mới. Điều đó cho thấy bị cáo khó cải tạo, giáo dục và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm kh c để cách ly bị cáo với các hoạt động bình thường bên ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội từ đó để bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời vừa đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung cho cộng đồng.
[8 Về hình phạt b sung: do bị cáo Nguy n Thị M không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt b sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về áp dụng các biện pháp tư pháp: như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên xem xét ghi nhận.
Đối với hành vi đánh bạc của Hu nh Thanh T, Nguy n Hu nh húc T và Hồ Thiện T1 qua điều tra xác định các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự và số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không phạm tội; ngày 17/5/2022 Công an huyện Thạnh hú đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối về hành vi đánh bạc của Hu nh Thanh T, Nguy n Hu nh Phúc T và Hồ Thiện T1 theo đúng quy định. Đối với, Nguy n Văn C không tham gia đánh bạc, chỉ đến xem nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với Hu nh Thị Ngọc B là chủ quán cà phê N có hành vi cho các con bạc sử dụng địa điểm để đánh bạc nhưng không nhận các lợi ích từ những người tham gia đánh bạc nên không phạm tội.
Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nh , tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, tuy nhiên về hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo là người cao tu i được mi n nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị M phạm tội “Đánh bạc”,
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguy n Thị M 06 sáu tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dùng vào việc đánh bạc là 1.900.000 đồng một triệu chín trăm ngàn đồng theo Biên lai thu tiền số 0000437 ngày 25/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre hoàn trả cho Nguy n Hu nh húc T số tiền 1.750.000 đồng một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng theo Biên lai thu tiền số 0000437 ngày 25/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre.
- Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ đánh bạc là 01 bộ bài tây, loại 52 lá đã qua sử dụng .
Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạnh hú theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh hú, tỉnh Bến Tre và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2023.
- Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh hú đã trả lại cho Hu nh Thanh T 01 điện thoại di động Nokia màu đen do không liên quan đến vụ án. Chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguy n Thị M được mi n nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Thạnh hú (1b); - Công an huyện Thạnh hú (b); - Bộ phận HSNV Công an huyện Thạnh Phú (1b); - Chi Cục THADS huyện Thạnh hú (1b); - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (4b); - UBND thị trấn Thạnh hú, huyện Thạnh hú (1b); - Lưu hồ sơ vụ án; VP TAND huyện Thạnh hú. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa H V n Tú |