vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày13/12/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN TU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 27- 4 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng, Ông Lê Sỹ Chiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 13/4/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Ph; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1989; Nơi sinh: Huyện TU, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn Ch, sinh năm 1958 và con bà Lò Thị B, sinh năm 1959; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Lò Thị Ng, sinh năm 1990; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/12/2022 đến ngày 22/12/2022 áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lò Văn Đ, sinh năm 1987; địa chỉ: Bản H, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 13/12/2022, Lò Văn Đ rủ Lò Văn Ph trú cùng bản H, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu ra thị trấn TU, huyện TU, tỉnh Lai Châu để mua điện thoại, Ph đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô của Đ chở Ph từ nhà ra cửa hàng mua bán điện thoại di động “Mạnh Toản” thuộc địa phận tổ dân phố 5, thị trấn TU, huyện TU để mua điện thoại. Tại đây, Đ ở lại mua điện thoại còn Ph mượn xe mô tô của Đ rồi điều khiển xe mô tô đi tìm mua Heroin về sử dụng thỏa mãn cơn nghiện, nhưng Ph không nói cho Đ biết việc này. Sau đó, Ph điều khiển xe mô tô đến khu vực đồi chè thuộc địa phận tổ dân phố 5, thị trấn TU, huyện TU thì gặp và mua được của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tự giới thiệu tên là “Thủy” 01 gói Heroin bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu vàng với giá 500.000 đồng. Mua được Heroin, Ph cất giấu gói Heroin vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến quán điện thoại “Mạnh Toản” để đón Đ, nhưng Ph không nói cho Đ biết việc đang tàng trữ trái phép ma túy trên người. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở Ph về đến bản Hô Ta, xã Phúc Khoa, huyện TU thì bị lực lượng Công an huyện TU dừng xe kiểm tra hành chính, Lò Văn Ph lo sợ nên đã vứt 01 gói Heroin bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu vàng xuống đất nhưng bị phát hiện. Sau đó, Ph thừa nhận gói Heroin trên mặt đường là của Ph do Ph vừa vứt xuống. Hồi 15 giờ 30 phút, cùng ngày, Lò Văn Ph bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của Lò Văn Ph 01 gói Heroin bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu vàng có khối lượng 1,29 gam

Ngày 13/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản Kết luận giám định số 77 ngày 13/12/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Lò Văn Ph có khối lượng là 1,29 gam.Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU đã trích 0,16 gam trong tổng số 1,29 gam chất bột, màu trắng theo Lò Văn Ph khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại kết luận giám định số 02/GĐ-KTTH ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroin”

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-TU ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU đã truy tố bị cáo Lò Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 16/KLĐT ngày 12/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện TU và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 13/12/2022, tại bản Hô Ta, xã Phúc Khoa, huyện TU, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Ph đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 1,29 gam bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu vàng, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện TU phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có trình độ học vấn thấp (9/12); khi bị công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu nhập thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

1,13 gam Heroin còn lại sau khi trích gửi giám định, 01 mảnh nilon màu vàng xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroin, Lò Văn Ph khai mua được của 01 người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tên “Thuỷ” tại tổ dân phố 5, thị trấn TU, huyện TU. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Trong vụ án này, Lò Văn Đ là người điều khiển xe mô tô chở Lò Văn Ph. Quá trình điều tra xác định, Đ không biết Ph mượn xe mô tô của Đ đi mua Heroin và cũng không biết việc Đ tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tạị Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày13/12/2022.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì công văn của Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu bên trong 1,13 gam Heroin còn lại sau khi trích gửi giám định, 01 mảnh nilon màu vàng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU với Chi Cục thi hành án dân sự huyện TU)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Cỡ chữ