vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự.

Tuyênbố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội“Tàngtrữtráiphépchất matuý”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn N - Tàng trữ TP chất MT. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Lê Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 (Sau đây viết tắt là: 30/6/2023) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 14/7/2023, đối với bị cáo:

Đinh Văn N, sinh năm 1985 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn D và bà Lê Thanh T; có vợ là Trần Thị H và 03 con (Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 19/5/2023 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn D, sinh năm 1953; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Hoàng Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08h ngày 16/5/2023, Công an xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam tiến hành tuần tra, kiểm soát trên trục đường thuộc thôn H, xã N thì phát hiện, bắt quả tang Đinh Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ, thu giữ tại tay phải của N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 gói giấy nilon màu đen có chứa chất bột dạng cục, màu trắng (Niêm phong trong phong bì ký hiệu A1). Đinh Văn N khai là ma túy mua về để sử dụng cá nhân. Ngoài ra, còn thu giữ của Đinh Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter MX, biển kiểm soát (Sau đây viết tắt là BKS) 90K1 - 2370.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn N: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* Tại Kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 19/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,260 g (không phẩy hai trăm sáu mươi gam), loại Heroine”.

* Đinh Văn N khai về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ: Khoảng 07h15’ ngày 16/5/2023, N điều khiển xe mô tô BKS 90K1 - 2370 đi từ nhà đến khu vực ngã tư chùa Vàng thuộc thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam mua 01 gói ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền là 200.000 đồng. Sau đó, N cầm gói ma túy vừa mua được ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

* Về vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định và 01 xe mô tô BKS 90K1 - 2370 đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.

Quá trình điều tra Đinh Văn N đã khai rõ toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSLN ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đinh Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 ộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự: Xử phạt Đinh Văn N từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy thu giữ; trả lại cho ông Đinh Văn D chiếc xe mô tô BKS 90K1- 2370.

- ị cáo Đinh Văn N đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân vào sáng ngày 16/5/2023 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. ị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đinh Văn D trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Đinh Văn N; xe mô tô BKS 90K1 - 2370 là tài sản hợp pháp của ông và hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy. Do đó, ông đề nghị được nhận chiếc xe mô tô và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 08h ngày 16/5/2023, tại trục đường thuộc thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam, Đinh Văn N đang có hành vi cất giữ trái phép trong lòng bàn tay phải 01 gói ma túy có khối lượng 0,260 (Không phẩy hai trăm sáu mươi) gam, loại Heroine mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Công an xã N, huyện L phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Đinh Văn N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 ộ luật hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương mà còn trực tiếp gây tổn hại đến chính sức khỏe cũng như tương lai của bị cáo, gây bất bình trong xã hội. ản thân bị cáo là người đã trưởng thành, đã có gia đình ổn định nhưng lại thiếu gương mẫu, ý thức trong rèn luyện, lại thể hiện lối sống buông thả, đua đòi nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng hiện nay.

- Về nhân thân: ị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: ị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi dưỡng 03 con còn nhỏ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 ộ luật tố tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 ộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS 90K1 - 2370 HĐXX xác định là tài sản hợp pháp của ông Đinh Văn D (bố đẻ của Đinh Văn N), ông D không biết việc N mượn xe mô tô này để đi mua ma túy nên trả lại chiếc xe mô tô BKS 90K1 - 2370 cho ông Đinh Văn D là phù hợp pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Đinh Văn N khai đi mua ma túy của 01 người đàn ông tại khu vực chùa Vàng thuộc thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam nhưng không biết nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có bất cứ thông tin, tài liệu, chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân không có căn cứ để xác minh, xử lý. Do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự.

Tuyênbố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội“Tàngtrữtráiphépchất matuý”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023.

[2] Áp dụng Điều 47 ộ luật hình sự và Điều 106 ộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 254/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, ghi: “Mẫu vật hoàn trả A1”.

- Trả lại cho ông Đinh Văn D: 01 xe mô tô BKS 90K1 - 2370, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter MX, màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng, số khung: RLCJ5B940AY085373, số máy: 5 94085373.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 03/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra

- Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).

[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 ộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: ị cáo Đinh Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ