vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T (Nguyễn Xuân Tr) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2023. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T (Nguyễn Xuân Tr) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 30- 5- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Luân

2. Ông Trần Đăng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Tiến Nghị - Kiểm sát viên

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T (Nguyễn Xuân Tr), sinh năm 1980 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy B, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; vợ là: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1982 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2004; Tiền sự : không.

Tiền án: Bản án số 50/2009/HSST ngày 17/12/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Xuân T 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Bản án số 10/2010/HSST ngày 09/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án số 50/2009/HSST ngày 17/12/2009, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung là 57 tháng tù; ngày 26/4/2013, T thi hành xong hình phạt tù, tháng 6/2010 thi hành xong phần thi hành án dân sự. Bản án số 80/2014/HSST ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Xuân T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết tăng nặng “Tái phạm”; ngày 23/10/2015, T đã thi hành xong hình phạt tù, chưa thi hành xong phần tiền bồi thường dân sự. Bản án số 40/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Xuân T 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”; ngày 16/4/2021, T đã thi hành xong hình phạt tù, chưa thi hành xong phần tiền bồi thường dân sự.

Nhân thân: Ngày 30/5/2014, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền về hành vi đánh nhau.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 19/01/2023 đến ngày 22/01/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà)

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988 Nơi cư trú: Thôn Tr, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình

+ Anh Đinh Quang D, sinh năm 1999 Nơi cư trú: Thôn Ph, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình

(Anh Q và anh D đều vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/8/2022, Nguyễn Xuân T (tên gọi khác là Nguyễn Xuân Tr) một mình đi bộ lên thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thì gặp anh Nguyễn Văn Q. T vay anh Q 400.000 đồng gồm 02 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng cất vào túi quần, sau đó nhờ anh Q chở đến thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có việc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh Q đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 17B4-101.11 chở T đi trên đoạn đường thôn Hà Nguyên thì gặp Trần Văn L, sinh ngày 18/02/1972, nơi cư trú: thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà. T bảo anh Q dừng xe, sau đó T xuống xe đi bộ đến chỗ L hỏi mua 400.000 đồng ma túy, loại Heroine. L cầm 400.000 đồng cất vào túi quần bên phải phía trước L đang mặc, sau đó lấy từ túi quần bên trái phía trước L đang mặc 02 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0409 gam. T cầm 02 gói ma túy trên cất vào túi quần bên trái phía trước T đang mặc thì bị Tổ công tác Công an huyện Hưng Hà phối hợp với Công an xã Thái Phương, huyện Hưng Hà phát hiện, bắt quả tang. T tự nguyện giao nộp 02 gói ma túy (niêm phong kí hiệu M1) vừa mua được của L. L tự nguyện giao nộp lại 400.000 đồng vừa bán ma túy cho T và 02 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2297 gam (niêm phong kí hiệu M2) cất giấu trong túi quần bên phải phía trước L đang mặc. L khai nhận số ma túy trên L cất giấu để bán. Công an huyện Hưng Hà tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên trước sự có mặt của những người làm chứng.

Bản kết luận giám định số 313/KL-KTHS(MT) ngày 09/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,0409 gam. M2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2297 gam...

Ngày 11/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định khởi tố vụ án; Quyết định khởi tố bị can Trần Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Ngày 06/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T vắng mặt tại địa phương nên ngày 03/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định truy nã Nguyễn Xuân T và Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra đối với Nguyễn Xuân T.

Tại Bản án hình sự số 17/2023/HS-ST ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã xử phạt Trần Văn L 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số 43/CT-VKSHH ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 17/2023/HS-ST ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/8/2022, tại đoạn đường thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Xuân T là người đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích có hành vi tàng trữ trái phép 0,0409 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đang có 04 tiền án, trong đó có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 10/2010/HSST ngày 09/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, hành vi tàng trữ trái phép 0,0409 gam ma túy, loại Heroine vào ngày 08/8/2022 của bị cáo Nguyễn Xuân T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án số 80/2014/HSST ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Xuân T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết tăng nặng “Tái phạm”; Bản án số 40/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã xử phạt Nguyễn Xuân T về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Do bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

…

o) Tái phạm nguy hiểm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đang có nhiều tiền án nhưng bị cáo không cải tạo bản thân, vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Trước khi phạm tội, bị cáo tích cực báo tin và hợp tác với cơ quan điều tra trong việc pháp hiện tội phạm; sau khi bị khởi tố, bị cáo đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Từ những căn cứ trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án số 17/2023/HS-ST ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T (Nguyễn Xuân Tr) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2023.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án

Bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ