- Tranh chấp gì? án hình sự — "Duy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/4/…
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 23-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Tám và bà Võ Thị Thanh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thuý Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Vũ Văn D, sinh năm 1986, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ 6, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; con ông Vũ Đình D (sinh năm: 1962) và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1969; có vợ là Trần Thị H, sinh năm: 1992 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: không; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/4/2023 đến ngày 26/4/2023 chuyển tạm giam đến nay - Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Y Lê N, sinh năm 1973; Địa chỉ: Bon J, xã Đ, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn 11, xã N, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn D là người nghiện ma túy. Ngày 16/4/2023 thông qua mạng xã hội Facebook Vũ Văn D liên hệ một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng được người này đồng ý và nói D gửi tiền qua tài khoản. Sau đó D ra đường Quốc lộ 14 mượn số tài khoản của một người đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) chuyển 1.000.000 đồng cho người bán ma túy. Khi nhận được tiền người đàn ông này chuyển ma túy kèm theo hàng hóa qua xe khách cho D, khoảng 15 giờ cùng ngày, D nhận ma túy từ xe khách (D không nhớ biển số xe) tại ngã tư cầu 20 thuộc thôn 10, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Sau khi nhận ma túy xong, D đón đi nhờ xe của một người đàn ông trên đường để đi về nhà tại thôn 11, xã Nam Bình, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, trên đường đi về nhà thì D làm rơi điện thoại của mình nên không nhớ số tài khoản sử dụng. Khi về đến nhà D chia ma túy ra gói vào tờ giấy bạc rồi cất vào trong túi quần phía trước bên phải. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/4/2023 D lấy 01 gói giấy bạc chứa ma túy trong gói zipper sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể, còn 02 gói giấy bạc chứa chất ma túy đựng trong gói zipper để trong túi quần. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/4/2023, lực lượng Công an huyện Đắk Song đến nhà rẫy của D thuộc Thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thử test ma túy đối với Vũ Văn D, do sợ bị phát hiện nên D dùng tay phải lấy gói zipper chứa 02 gói ma túy và 01 hộp kim loại chứa 01 gói ma túy ra nền nhà. Sau đó D tự nguyện giao nộp 02 gói ma túy chứa trong 01 gói zipper.
Qua khám xét khẩn cấp nhà của D phát hiện 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất rắn dạng cục màu trắng và 01 lưỡi lam chưa qua sử dụng được cất trong 01 hộpkim loại kích thước (04x06) cm tại nền gạch men phòng khách; tại vị trí giáp tường phía Tây của phòng khách phát hiện 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 xi lanh chưa qua sử dụng, 01 xi lanh đã qua sử dụng, 01 lưỡi lam chưa qua sử dụng để nóc tủ lạnh được đặt giáp tường hướng phía Bắc của phòng khách. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Văn D về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng gồm: 03 gói giấy bạc bên trong chứa chất rắn màu trắng, 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 xi lanh chưa qua sử dụng, 02 lưỡi lam chưa qua sử dụng, 01 xi lanh đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 138/KL – KTHS, ngày 25/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 01 gửi giám định đều là ma túy, loại hêrôin, có khối lượng mẫu là 0,2322 gam; Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiện số 02 gửi giám định là ma túy, loại hêrôin, có khối lượng mẫu là 0,0883 gam.
Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng trong bì thư ký hiệu số 01 hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1946 gam heroin; Chất rắn màu trắng trong bì thư ký hiệụ số 02 hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,0683 gam heroin.
Cáo trạng số: 49/CT-VKS-ĐS ngày 28 tháng 7 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn D mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,2629gam heroin hoàn lại sau giám định, 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 xi lanh chưa qua sử dụng, 02 lưỡi lam chưa qua sử dụng, 01 xi lanh đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Song, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hai hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/4/2023 tại Thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với mục đích để sử dụng nên Vũ Văn D đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,3205 gam chất ma túy, loại heroin, có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nghị định 57/2022/NDD - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Vũ Văn D dã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…’’
Đánh giá tính chất vụ án:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà Nước về quản lý chất ma tuý. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo tàng trữ trái phép trong người 0,3205 gam heroin với mục đích để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội biết ton trọng pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho bị cáo Vũ Văn D, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tiến hành xác minh nhưng chưa phát hiện được đối tượng nên tách ra để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Văn D. Ngày 08/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ - XPHC với số tiền 1.500.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,2629gam heroin hoàn lại sau giám định, 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 xi lanh chưa qua sử dụng, 02 lưỡi lam chưa qua sử dụng, 01 xi lanh đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/4/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,2629gam heroin hoàn lại sau giám định, 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 xi lanh chưa qua sử dụng, 02 lưỡi lam chưa qua sử dụng, 01 xi lanh đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án.
(Tất cả vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn D có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV 27 CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - Chi cục THA DS huỵên Đắk Song; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) TRẦN ĐÌNH MINH |