vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T106 (bên trong phong bì chứa 1,17g ma túy loại Heroine, cùng phong bì và bao gói cũ) của P… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS - ST
Ngày 28/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lục Thị Xinh

2. Bà Triệu Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST - HS ngày 07/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST- HS ngày 14/9/2023 đối với bị cáo:

Triệu Văn T (tên gọi khác không); sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn C và con bà Tô Thị N; vợ: Ngô Thị L; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11/6/2023 đến ngày 19/6/2023 thì được hủy b , bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú cho đến nay, c m t tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị L; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. C m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Hồi 17 giờ 40 phút ngày 11/6/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang bị cáo Triệu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, bị cáo tự nguyện xuất trình từ trong túi quần đằng trước bên trái đang m c 01 (Một) túi nilon, loại túi đựng xi lanh bên ngoài có chữ viết màu xanh, bên trong túi có chứa cục và bột màu trắng. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (Thuốc thử Heroine), kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy, loại Heroine (Được niêm phong vào phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo 02 (Hai) xi lanh nhựa, loại 03 ml/cc, đã qua sử dụng và 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 97E1 – 011.80.

Tại Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 20 giờ 00 phút ngày 11/6/2023, xác định: Cân riêng toàn bộ cục và chất bột màu trắng trong 01 (Một) túi nilon trong phong bì niêm phong ký hiệu T1 có khối lượng 1,23g (Một phẩy hai ba gam) niêm phong gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định trong phong bì ký hiệu T2.

Tại bản kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T2 trong túi nilon trong suốt, miệng túi có viền màu đỏ gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T2 có khối lượng là 1,23g (Một phẩy hai ba gam)”.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Triệu Văn T khai nhận: 01 (Một) gói ma túy (Heroine) bị thu giữ là của bị cáo mua về để sử dụng cá nhân, cụ thể: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/6/2023, bị cáo điều khiểu xe mô tô biển kiểm soát 97E1 – 011.80 của bị cáo từ xã B đi xuống thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 16 giờ 30 phút bị cáo đi đến khu vực ngã tư Bưu điện huyện C thì g p và mua được 01 (Một) gói ma túy với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (Không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất gói ma túy mua được vào túi quần đằng trước bên trái đang m c rồi điều khiển xe để đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị lực lượng Công an huyện C bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.

Về vật chứng: Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo Triệu Văn T sau khi trích giám định còn lại 1,17g (Một phẩy mười bảy gam), phong bì và bao g i cũ được niêm phong trong 01 (Một) phong bì ký hiệu T106 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong ký hiệu T3 bên trong chứa v phong bì niêm phong và giấy g i ban đầu; 02 (Hai) xi lanh, loại 03ml/cc, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 97E1 – 011.80, xe đã qua sử dụng (Có kèm chìa khóa xe); 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 97001381, tên chủ xe Triệu Văn T, sinh năm 1987, cấp ngày 07/3/2023. Tất cả số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 43/CT - VKSCĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không xử phạt phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 1,17g (Một phẩy mười bảy gam) ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành c ng các loại phong bì, bao g i liên quan đến số ma túy và 02 (hai) xi lanh nhựa loại 03ml/cc là vật đều không c giá trị; tịch thu hóa giá xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave @ , BKS 97E1- 011.80 (có kèm chìa khóa xe) để sung quỹ Nhà nước ½ giá trị xe phần của bị cáo, trả 1/2 giá trị xe còn lại cho bà Ngô Thị L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan bà Ngô Thị L đề nghị được trả lại ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave @ , BKS 97E1-011.80 do chiếc xe là tài sản chung của hai vợ chồng bà L và bị cáo.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo n i lời sau c ng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không c ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn T khai nhận: Hồi 17 giờ 40 phút ngày ngày 11/6/2023, khi bị cáo đi trên đường thuộc thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để về nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ trên người 01 gói ma túy có khối lượng là 1,23g (Một phẩy hai ba gam) loại Heroine. Số ma túy này bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi vào hồi 16 giờ ngày 11/6/2023 tại khu vực ngã tư Bưu điện huyện C, tỉnh Bắc Kạn với số tiền 200.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, ph hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và ph hợp với các chứng cứ, tài liệu c trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 1,23g (Một phẩy hai ba gam) ma túy loại Heroine của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 43/CT – VKSCĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố là c căn cứ, đúng pháp luật.

3 Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.

4 Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội (ông Triệu Văn K) được Nhà nước t ng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5 Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn c thể bị xử phạt bổ sung là phạt tiền. Qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: Bị cáo sinh sống tại v ng kinh tế - xã hội đ c biệt kh khăn, thuộc diện hộ nghèo, không c tài sản c giá trị nên không xử phạt phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

6 Về xử lý vật chứng:

Đối với 1,17g (Một phẩy mười bảy gam) ma túy loại Heroine được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành c ng các loại phong bì, bao g i liên quan đến số ma túy và 02 (hai) xi lanh nhựa loại 03ml/cc đã qua sử dụng đều không c giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave @ , BKS 97E1-011.80 (Có kèm theo chìa khóa xe) bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Qua các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo và bà Ngô Thị L tại phiên tòa đủ cơ sở xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và bà L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà L đề nghị được trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô trên. Tuy nhiên, xét thấy ngày 11/6/2023 bị cáo đã sử dụng xe làm phương tiện để đi mua ma túy sau đ bị bắt quả tang nên xác định chiếc xe mô tô trên là công cụ, phương tiện d ng vào việc phạm tội. Do vậy, cần tịch thu hóa giá toàn bộ chiếc xe mô tô trên để sung quỹ Nhà nước. Trường hợp bà Ngô Thị L nếu có tranh chấp về quyền sở hữu ho c yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị của chiếc xe mô tô mà bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đối với 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 97001381 mang tên Triệu Văn Tốt, sinh năm 1987, cấp ngày 07/3/2023 cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án đối với chiếc xe mô tô trên.

Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy (Heroine) cho bị cáo tại khu vực ngã tư Bưu điện huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình điều tra bị cáo không xác định được lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

8 Đối với bà Ngô Thị L (vợ bị cáo Triệu Văn T) là đồng sở hữu chiếc xe mô tô Wave @, BKS 97E1- 011.80. Qua các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án xác định được bà L không liên quan đến hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo nên không c căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với bà L.

9 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 18 tháng t , được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 11/6/2023 đến ngày 19/6/2023), thời hạn t tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt t của bản án

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T106 (bên trong phong bì chứa 1,17g ma túy loại Heroine, cùng phong bì và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C); 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T3, bên trong chứa v phong bì niêm phong, bao g i cũ ban đầu; 02 (hai) xi lanh nhựa loại 03ml/cc, đã qua sử dụng.

- Tịch thu h a giá để sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave @ , BKS 97E1- 011.80, số máy JA39E-2972197, số khung RLHJA392XNY510419 (Có kèm theo chìa khóa xe).

Tạm giữ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 97001381 mang tên Triệu Văn T, sinh năm 1987, cấp ngày 07/3/2023) để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Triệu Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan c m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ