- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày: 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÊ THỊ DIỄM
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông HUỲNH VĂN DŨNG
Ông QUÁCH TRUNG SƠN
- Thư ký phiên tòa: Bà TRẦN THỊ KIM LUÔNG– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Gia L, sinh ngày 11/02/1996, tại Tiền Giang. Nơi cư trú: Số 2C, tổ 1, khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn S, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1969; Anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình, học đến lớp 10 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023, đến ngày 10/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Số 26, tổ 1, khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
Người chứng kiến:
1. Anh Lê Thanh H, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn C huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có đơn xin vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Gia L là con ruột và sống chung nhà với bà Lê Thị Ngọc D tại số 2, tổ 1, khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 25/12/2022, Võ Gia L đang ở nhà thì có đối tượng tên T ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ, năm sinh, địa chỉ cụ thể), bạn của L đến chơi. Sau khi cả hai sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của L xong, L xin ma túy của T để L tiếp tục sử dụng, T đồng ý và cho L 02 gói nylon chứa ma túy được dán kín (01 gói nylon dán kín có viền xanh và 01 gói nylon có viền đỏ), có được ma túy L cất giấu trên bàn gỗ trong phòng ngủ của L.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/01/2023 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà của bà Lê Thị Ngọc D có đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cái Bè phối hợp Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên bàn gỗ trong phòng ngủ của Võ Gia L có 02 gói nylon chứa ma túy được dán kín (01 gói nylon có viền xanh và 01 gói nylon có viền đỏ), L thừa nhận 02 gói ma túy là của L xin của người bạn tên Tđể sử dụng, nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Theo Bản kết luận giám định số 02/KLGĐ-PC09 ngày 05/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận về đối tượng giám định: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,2520 gam, loại Ketamine (Trong đó: Mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 0,8281 gam, mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,4239 gam).
Hoàn lại đối tượng giám định: Các mẫu tinh thể trong suốt ký hiệu M1 và M2 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là 0,8088 gam và 0,4101 gam được niêm phong trong 01 (một) bì thư ký hiệu vụ số: 02 ghi ngày 05 tháng 01 năm 2023.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu 02 gói nylon dán kín chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy để trên bàn gỗ trong phòng ngủ của Võ Gia L, 02 gói nylon được cho vào bao thư niêm phong cùng có chữ ký xác nhận của Võ Gia L, Nguyễn Văn H, Lê Thanh H và Trần Vũ K có đóng dấu tròn đỏ ghi Công an thị trấn Cái Bè, Công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSCB ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Gia L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo Võ Gia L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Võ Gia L từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Về tội danh: Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo Võ Gia L thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/01/2023, tại nhà bà Lê Thị Ngọc D tại số 2, tổ 1, khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cái Bè phối hợp Công an Thị trấn Cái Bè bắt quả tang Võ Gia L đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của L nhằm mục đích sử dụng. Vật chứng thu giữ là ma túy có tổng khối lượng là 1,2520 gam, loại Ketamine. Hành vi đó của Võ Gia L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi cất giữ bất hợp pháp 1,2520 gam, loại Ketamine trong phòng ngủ của bị cáo với mục đích để sử dụng là cất giữ bất hợp pháp, trái quy định của Nhà nước nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân mà vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử nghiêm minh để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội, luôn có ý thức chấp hành chính sách pháp luật đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để ra mức hình phạt nghiêm minh như đề nghị mức xử phạt của Viện Kiểm sát là phù hợp pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai thì bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với bao thư niêm phong có ký hiệu vụ số 02 ghi ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký ghi họ tên của Lê Minh H và chữ ký in họ tên Nguyễn Thị Kiều L, Trần Thanh D bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kín (ký hiệu M1) chứa 0,8088gam ma túy, loại Ketamine; một gói nylon màu trắng được dán kín (ký hiệu M2) chứa 0,4101gam ma túy, loại Ketamine và 02 (hai) vỏ bao gói nylon màu trắng đều bị cắt một đầu là chất cấm và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với đối tượng tên T (Không rõ họ, địa chỉ cụ thể) là người cho ma túy cho bị cáo Võ Gia L, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với bà Lê Thị Ngọc D không biết bị cáo Võ Gia L tàng trữ trái phép chất ma túy, không biết bị cáo và Tsử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
- Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ vào các Điều 106, 135, khoản 2 Điều 136, 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Gia L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Gia L 01(một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 04 tháng 01 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: Bao thư niêm phong có ký hiệu vụ số 02 ghi ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký ghi họ tên của Lê Minh H và chữ ký in họ tên Nguyễn Thị Kiều L, Trần Thanh D bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kín (ký hiệu M1) chứa 0,8088gam ma túy, loại Ketamine; một gói nylon màu trắng được dán kín (ký hiệu M2) chứa 0,4101gam ma túy, loại Ketamine và 02 (hai) vỏ bao gói nylon màu trắng đều bị cắt một đầu.
(Hiện các vật chứng này do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè ngày 11/4/2023).
3.Về án phí:
Bị cáo Võ Gia L phải chịu 200.000đồng án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Võ Gia L; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - Công an huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Diễm |