- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q, Lý Văn K - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42 /2023/HS - PT. Ngày 08 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Chương.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Việt và ông Ma Ngọc Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Tuyết Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 68/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; sinh ngày 04/4/1991, tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Đặng Thị M; có vợ là Đặng Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Họ và tên: Lý Văn K; sinh ngày 09/9/1991 tại tỉnh Yên Bái;
Nơi cư trú: Thôn Đồng Tý, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn D và bà Đặng Thị N; có vợ là Bàn Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 23/3/2023, Nguyễn Văn Q cùng bạn là Lý Văn K đến khu vực rừng thuộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái tìm mật ong rừng bán kiếm tiền. Khoảng 14 giờ cùng ngày, trong quá trình vào rừng tìm mật ong, K phát hiện 01 (một) cá thể Rắn hổ chúa, màu đen, dài khoảng 2m, K và Q cùng nhau bắt cá thể rắn cho vào bao tải dứa mang từ nhà để đi rừng rồi để tại gốc cây trong rừng, sau đó cùng nhau tiếp tục vào rừng tìm mật ong. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Qvà K quay lại gốc cây lấy bao tải chứa cá thể rắn rồi đi đến thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái thuê nhà nghỉ trọ qua đêm nhưng không nhớ tên và địa chỉ nhà nghỉ này.
Đến sáng ngày 24/3/2023, Quang và K để bao tải chứa cá thể rắn tại nhà nghỉ và tiếp tục đi vào rừng tìm mật ong, đến buổi trưa cùng ngày, do không tìm được ong nên Q đi về nhà tại xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, còn K đi về nhà nghỉ lấy bao tải chứa cá thể rắn mang về để tại gầm nhà sàn của K tại thôn Đồng Tý, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái (lúc này chị Bàn Thị T là vợ K cùng các con không ở nhà).
Khoảng 22 giờ ngày 24/3/2023, có một người đàn ông, không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, sử dụng số điện thoại 0878253874 gọi đến số điện thoại 0349431582 của Q hỏi mua mật ong rừng, Q trả lời không có mật ong, chỉ có 01 cá thể Rắn hổ chúa muốn bán với giá 800.000 đồng/01kg, người đàn ông này đồng ý mua, thỏa thuận sáng ngày 25/3/2023, Quang sẽ giao cá thể rắn tại khu vực đường Quốc lộ 37 thuộc phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, người đàn ông này trả tiền khi nhận cá thể rắn. Sau đó, Quang gọi điện thoại cho K thông báo có người hỏi mua rắn với giá 800.000 đồng/kg, hẹn sáng ngày 25/3/2023, K mang cá thể rắn đến xã Vũ Linh, huyện Y, tỉnh Yên Bái đưa cho Q để Q mang đi giao cho người mua. Q và K thỏa thuận bán cá thể rắn được bao nhiêu tiền sẽ chia đôi mỗi người một nửa.
Khoảng 07 giờ ngày 25/3/2023, Q điều khiển xe mô tô biển số 22B1-562.56 đi từ nhà đến thôn N, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái thì gặp K đang điều khiển xe mô tô chở thùng xốp đựng bao tải chứa cá thể rắn để mang cho Quang. Sau đó, Q chở thùng xốp chứa cá thể rắn về nhà, dùng băng dính dán cố định nắp thùng xốp rồi điều khiển xe mô tô chở đến phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang để giao cho người mua. Khi Q đi đến khu vực đường Quốc lộ 37 thuộc tổ dân phố 7, phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Công an phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang; Đội Kiểm lâm cơ động PCCCR Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, phát hiện Q đang có hành vi tàng trữ trái phép động vật nguy cấp, quý, hiếm. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc hồi 09 giờ cùng ngày, đồng thời tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định.
Tại bản K luận giám định động vật số 376/STTNV ngày 27/3/2023 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, K luận: Xác định tên loài động vật: 01 (một) cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, lớp bò sát (Reptilia).
- Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật: Loài Rắn hổ chúa có tên trong phục lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Ngày 02/6/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng: Bàn giao cá thể Rắn hổ chúa cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội để xử lý theo quy định. Quá trình bàn giao, Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội cung cấp thông tin: Cá thể Rắn hổ chúa mà Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Tuyên Quang gửi Trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc hiện vẫn phát triển tốt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1, Điều 244; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
K thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K mỗi bị cáo 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Trước khi mở phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K xuất trình đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo Lý Văn K có con bị khuyết tật, gia đình thuộc hộ nghèo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho cả hai bị cáo. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt và xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt đối với các bị cáo như sau:
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/11/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Xử phạt bị cáo Lý Văn K 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/11/2023).
Giao bị cáo Lý Văn K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp đủ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, có đủ căn cứ xác định: Từ ngày 23 đến 25/3/2023, Nguyễn Văn Q, trú tại thôn Đá Bàn 2, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang và Lý Văn K, trú tại thôn Đồng Tý, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái có hành vi tàng trữ 01 cá thể Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah.
Loài Rắn hổ chúa có tên trong phục lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ; Loài Rắn hổ chúa có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử các bị cáo về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lý Văn K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại cấp phúc thẩm các bị cáo xuất trình đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, các bị cáo đều là dân tộc Dao, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ; bị cáo Lý Văn K có con là Lý Bảo H sinh ngày 19/01/2016 bị khuyết tật nặng, gia đình thuộc hộ nghèo; cá thể Rắn hổ chúa hiện nay được Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp pháp luật và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp đủ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lý Văn K, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với các bị cáo như sau:
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/11/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Xử phạt bị cáo Lý Văn K 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/11/2023).
Giao bị cáo Lý Văn K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lý Văn K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lý Văn K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lý Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000204, ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/11/2023)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Phòng HSNV Công an tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - TAND + VKSND Tp: Tuyên Quang; - Chi cục THADS thành phố Tuyên Quang; - CQCSĐT Công an Tp: Tuyên Quang; - Bị cáo; - Văn phòng TAND tỉnh; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Văn Chương |