- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Minh T sửa nội dung bản án sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân về phần hình phạt đối v i bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-PT Ngày: 20-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Thiện
Các Thẩm phán: Ông Trần Khắc Hoàng; Ông Bùi Quang Năng
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tống Khánh Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối v i bị cáo Trần Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối v i bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2022/HS-ST ngày 10-11-2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Minh T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16 tháng 10 năm 1984 tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Cha: Trần Văn T, Sinh năm: 1951; Mẹ: Nguyễn Thị Ký, Sinh năm: 1954; Vợ: Lê Thị L, Sinh năm:1985; Con: Có 03 người con, l n nhất, Sinh năm: 2012, nhỏ nhất, Sinh năm: 2018; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 18/02/2019, bị UBND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi:"Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (pháo) bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đ (năm triệu đồng) đã thi hành xong.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. (Có mặt tại phiên tòa).
- Đại diện bị hại: Chị Hoàng Thị Bích Hồng, sinh năm 1970; Nơi cư trú: TDP Lam Thủy, thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều tối ngày 17/5/2022, Trần Minh T đi tham dự đám giỗ có uống riệu tại nhà bạn cùng thôn. Sau khi ăn uống xong Tuấn điều khiển xe mô tô BKS: 38N1-229.06 đi theo đường Quốc lộ 8B hư ng thị trấn Tiên Điền. Khi đi đến đoạn đường Nguyễn Du, địa phận tổ dân phố Giang Đình, thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Minh T điều khiển xe mô tô chuyển hư ng sang trái đường không bật đèn báo hư ng rẽ và nhường đường cho xe ngược chiều đến nên đã xảy ra va chạm v i xe máy điện BKS: MĐ1-833.19 do cháu Nguyễn Hoài Thương điều khiển, chở sau là cháu Võ Thị Huyên lưu thông từ hư ng ngược chiều đến làm cháu Thương và Huyên cùng xe máy điện ngã xuống đường nhựa. Hậu quả: Cháu Nguyễn Hoài Thương bị thương nặng tử vong.
V i hành vi phạm tội nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Minh T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Trong hạn luật định, ngày 21/11/2022 bị cáo Trần Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Minh T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, đề nghị Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Bị cáo không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án, đồng ý v i tội danh mà HĐXX sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa Đại diện hợp pháp của bị hại xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Minh T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp v i các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp v i lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, HĐXX thấy rằng bản án hình sự sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 10-11-2022 của TAND huyện Nghi Xuân xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức về hành vi, lẽ ra khi tham gia giao thông trên đường bộ bị cáo cần thiết phải đảm bảo an toàn cho mình và người khác nhưng do bản thân có sử dụng rượu bia và do bị cáo chủ quan, lơ là, thiếu quan sát nên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làm chết một người. Tuy hậu quả xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo nhưng là lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Vì vậy, HĐXX cần phải xử phạt nghiêm bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo: Kháng cáo của bị cáo Trần Minh T làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Quá trình điều tra cũng như tại các cấp xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại một số tiền tương đối l n mặc dù bản thân hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng vẫn khắc phục khó khăn để bồi thường phần nào mất mát của gia đình bị hại, đại diện người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình giải quyết phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn và đơn xác nhận có tham gia giúp sức phục vụ trong đại dịch COVIT-19 đều có xác nhận của chính quyền địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện gia đình bị hại là bố, mẹ của bị hại thiết tha xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS m i được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS mà cấp sơ thẩm chưa xem xét đối v i bị cáo.
Xét thấy bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu tiên phạm tội, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo cho gia đình và địa phương nơi thường trú của bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối v i bị cáo.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Minh T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Minh T sửa nội dung bản án sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân về phần hình phạt đối v i bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2.Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Minh T 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 40 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Minh T cho UBND xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Trần Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 27 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu HSVA; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Thiện |