- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Phạm Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐST Ngày: 11/9/2023. V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Minh Ngọc.
2. Bà Phan Thị Thanh Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Lan Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/6/2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị B, sinh năm: 1997, địa chỉ: Thôn HL, xã N, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn Th, sinh năm: 1995, địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Bà B có mặt, ông Th vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị B trình bày:
Bà Đoàn Thị B và ông Phạm Văn Th tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Xuân I vào năm 2018. Vợ chồng số hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vả, xô xác nhau. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà Đoàn Thị B làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Văn Th.
Về con chung có hai con gồm Phạm Gia Nh, sinh năm 2018 và Phạm văn Kh, sinh năm: 2019. Nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi cả hai con, yêu cầu ông Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/ 1 cháu.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Văn Th trình bày:
Về điều kiện và thời gian kết hôn ông Phạm Văn Th đồng ý như bà Đoàn Thị B khai, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2018 tại UBND xã Tam Xuân I; Ông Phạm Văn Th thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như bà Đoàn Thị B trình bày nhưng không trầm trọng. Tuy nhiên bà Đoàn Thị B cương quyết ly hôn nên ông đồng ý.
Về con chung có hai con gồm Phạm Gia Nh, sinh năm 2018 và Phạm Văn Kh, sinh năm: 2019. Nếu ly hôn ông Phạm Văn Th yêu cầu được nuôi cháu Kh, giao cháu Nh cho bà Đoàn Thị B nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ hai vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng đối với bị đơn ông Phạm Văn Th không có mặt tại phiên tòa mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ là vi phạm pháp luật tố tụng dân sự; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Đoàn Thị B được ly hôn với ông Phạm Văn Th. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao hai con chung cho bà Đoàn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.000.000 đồng/ tháng; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đoàn Thị B có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Phạm Văn Th, trú tại: Thôn B, xã X, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn Th là bị đơn đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Phạm Văn Th vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do chính đáng, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn Th là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị B và ông Phạm Văn Th tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Núi Thành vào năm 2018. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Đoàn Thị B và ông Phạm Văn Th là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Bà Đoàn Thị B cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vả, xô xác nhau. Ông Phạm Văn Th thừa nhận tại biên bản hòa giải ngày 10/7/2023 vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng theo ông mâu thuẫn không trầm trọng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ nhưng hòa giải đoàn tụ không thành do Đoàn Thị B cương quyết ly hôn, cả hai không khắc phục được mâu thuẫn. Ông Phạm Văn Th cũng không kiên trì hòa giải thể hiện ở việc Tòa án triệu tập hòa giải lần hai ông vắng mặt. Mặc khác, ông Phạm Văn Th cũng có ý kiến nếu bà Đoàn Thị B cương quyết ly hôn thì ông đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Đoàn Thị B và ông Phạm Văn Th đã trầm trọng không thể khắc phục được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Đoàn Thị B được ly hôn với ông Phạm Văn Th là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Các đương sự thống nhất có hai con gồm Phạm Gia Nh, sinh năm 2018 và Phạm văn Kh, sinh năm: 2019. Bà Đoàn Thị B yêu cầu nuôi cả hai con; ông Phạm Văn Th yêu cầu được nuôi cháu Kh, giao cháu Nh cho bà Đoàn Thị B nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy: việc nuôi con phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ. Hiện nay các cháu còn nhỏ, rất cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ; bà Đoàn Thị B có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu và căn cứ theo quy định của pháp luật nên xét giao con Phạm Gia Nh, sinh năm 2018 và Phạm Văn Kh, sinh năm: 2019 cho bà Đoàn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đoàn Thị B yêu cầu ông Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng mỗi cháu 1.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của bà Đoàn Thị B là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như điều kiện thực tế nên chấp nhận, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét
Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà Đoàn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); ông Phạm Văn Th phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Phạm Văn Th.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị B được ly hôn với ông Phạm Văn Th.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Phạm Gia Nh, sinh năm 2018 và Phạm Văn Kh, sinh năm: 2019 cho bà Đoàn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi các cháu Phạm Gia Nh và Phạm Văn Kh mỗi cháu 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/ 1 tháng kể từ tháng 10/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Ông Phạm Văn Th được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở anh Phạm Văn Th thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đoàn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Đoàn Thị B đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000075 ngày 30/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Án phí cấp dưỡng nuôi con chung ông Phạm Văn Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Phạm Văn Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Núi Thành; - Chi cục THADS huyện Núi Thành; - TAND tỉnh Quảng Nam; - UBND xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thùy |