- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Minh N ly hôn anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Minh N và anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2023 V/v: Tranh chấp ly hôn giữa chị N và anh T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Sơn và ông Bùi Quang Hợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/ QĐXX-ST ngày 06/6/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Minh N, sinh năm: 1984, có mặt;
Địa chỉ: Ngõ A, phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1977, vắng mặt;
Địa chỉ:
- Nơi cư trú: Đường R, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;
- Nơi thường trú: Khu Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Trong đơn khởi kiện ngày 27/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Minh N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 20/8/2002, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống, thời gian đầu hòa thuận và hạnh phúc. Tuy nhiên, từ tháng 12/2019 vợ chồng thường xuyên pháp sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp. Đến tháng 01/2020, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân. Nay, chị cho rằng tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ, nên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh T.
- Về nuôi con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày: 27/5/2003 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày: 08/02/2006. Hiện các cháu khỏe mạnh; cháu V đang ở với anh T, còn cháu Quốc A đã trưởng thành.
Ly hôn, chị nhất trí giao cháu V cho anh T nuôi dưỡng. Chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Còn cháu Quốc A khỏe mạnh và đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.
- Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.
*. Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cùng địa phương đã T hành đầy đủ các thủ tục tố tụng với anh T (trong đó, có tiến hành giao Thông báo về việc thụ lý vụ án, giao Giấy triệu tập, giao Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải,…) nhưng anh T không chấp hành và hợp tác nên Tòa án không tiến hành lấy lời trình bày của anh T cũng như tiến hành hòa giải được.
*. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đầy đủ và đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự (trừ bị đơn).
- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị:
+. Về hôn nhân: Cho chị Trần Minh N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
+. Về nuôi con chung: Giao cháu V cho cho anh T nuôi dưỡng. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
Còn cháu Quốc A khỏe mạnh và đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.
+. Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
+. Về án phí: Buộc chị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa mở lại hôm nay, bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn T hành xét xử vụ án.
[2]. Về hôn nhân: Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Minh N và anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều kiện kết hôn, nên hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã T hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không T hành hòa giải được (bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt), nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn; còn bị đơn trong quá trình giải quyết, Tòa án đã T hành báo gọi lên giải quyết và hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn không hợp tác và không đến, hơn nữa tại phiên tòa mở lại lần này bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, chứng tỏ bị đơn nhằm gây khó khăn và thực sự không có thiện chí về đoàn tụ.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3]. Về nuôi con chung: Xét thấy, sau khi ly hôn vợ chồng phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt cũng như nguyện vọng của con và điều kiện nuôi con của hai bên, nên cần giao cháu V cho anh T nuôi dưỡng. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Do các bên không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét. Tuy nhiên, sau này các bên vẫn được quyền yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Còn cháu Quốc A khỏe mạnh và đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.
[4]. Về chia tài sản: Do các bên không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết. Tuy nhiên, sau này các bên vẫn được quyền yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[5]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Minh N và anh Nguyễn Văn T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày: 08/02/2006 cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2.2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
3. Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
*. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc chị Trần Minh N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0001612 ngày 13/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh; chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
*. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt được quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Tuyến
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND P. Hòa Long, TP. Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tuyến |