- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Trầ Thị N - Phạm Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42 /2023/HNGĐ-ST Ngày 17/04/2023 V/v Ly hôn giữa chị Nga và anh Nghĩa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vi Văn Hậu
2. Ông Lê Minh Tường
Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào– Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2022/TLST – HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số16 /2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Xóm K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
( Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn N kết hôn vào ngày 21/11/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị N và anh Phạm Văn N tính tình không hợp nhau nên trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường hay xảy ra nhiều mâu thuẫn. Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ tháng 12 năm 2019 đến nay vợ chồng sống ly thân. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị N yêu cầu Tòa giải quyết được ly hôn với anh Phạm Văn N.
Về con chung: Chị và anh Phạm Văn N có một con chung Phạm Trần Khánh A, sinh ngày 27/02/2015. Nếu ly hôn, thì chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản: Chị Trần Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự trình bày thì bị đơn anh Phạm Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị N kết hôn ngày 21/11/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh và chị Trần Thị N từ trước đến nay không hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã gì với nhau, tuy nhiên từ tháng 12 năm 2019, do anh đi làm ăn xa phải nên chị bỏ ra ngoài sống và hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị N xin ly hôn thì anh Nghĩa không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị N.
Về con chung: Anh Phạm Văn N nhất trí với ý kiến của chị Trần Thị N có con chung Phạm Trần Khánh A, sinh ngày 27/02/2015. Nếu ly hôn, anh N xin được nuôi con và không đồng ý giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản: Anh Phạm Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51; khoản 1 điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Văn N. Về con chung: Giao con chung Phạm Trần Khánh A, sinh ngày 27/02/2015 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành); Về tài sản chung: Chị Trần Thị N, anh Phạm Văn N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Trần Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn N và yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Phạm Văn N đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Phạm Văn N trong quá trình giải quyết vụ án thì anh N vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên cần căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt đối với anh Phạm Văn N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Phạm Văn N đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2014 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của chị N và anh N đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hòa thuận được một thời gian, rồi do tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2019. Chị N xin ly hôn thì anh N cũng đồng ý, quá trình giải quyết vụ án chị N không thay đổi ý kiến và tại phiên toà chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu đó. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Văn N.
Về con: Nếu ly hôn, xét nguyện vọng của hai bên đương sự về việc giao nuôi con, thấy rằng: Căn cứ vào nguyện vọng của hai bên đương sự, xét hoàn cảnh, điều kiện để nuôi con phát triển lành mạnh thể chất, trí tuệ nên cần giao con chung Phạm Trần Khánh A, sinh ngày 27/02/2015 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành) và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Phạm Văn N là hợp lý.
Về tài sản: Chị Trần Thị N và anh Phạm Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Văn N.
Về con: Buộc anh Phạm Văn N giao con chung Phạm Trần Khánh A, sinh ngày 27/02/2015 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Phạm Văn N. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu án phí DSST 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Trần Thị N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006985 ngày 01 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/4/2023. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Đào Hoàng Văn Phan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ( Đã ký ) Quán Vi Tuấn CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quán Vi Tuấn |