vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Ánh N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn bà Trương Ánh N được ly hôn với bị đơn ông Võ Tấn Đ. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018 cho nguyên đơn bà Trương Ánh N nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Ánh N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Ánh N, sinh năm 1987 (có mặt)

Hộ khẩu thường trú: ấp MĐ, xã MP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Chỗ ở hiện nay: ấp PT B, xã NP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Ông Võ Tấn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp MĐ, xã MP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/01/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trương Ánh N trình bày:

Vào năm 2015 bà N và ông Đ kết hôn theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ngày 19/5/2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 21/2015, quyển số 01/2015. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018, hiện 02 con chung đang sống chung với bà N.

Đến năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài vẫn không khắc phục được, nên đã ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay không ai quan tâm đến ai.

Nay bà N cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Ánh N yêu cầu được ly hôn với ông Võ Tấn Đ.

- Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018, bà N không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quyền, nghĩa vụ về T sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn là cháu Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 trình bày: Cháu là con chung của ông Võ Tấn Đ và bà Trương Ánh N, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là bà Trương Ánh N.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn ông Võ Tấn Đ biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của bà N. Nhưng ông Đ không có văn bản trả lời và đều vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đều vắng mặt tại các phiên toà mặc dù đã được tống Đ triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn bà Trương Ánh N được ly hôn với bị đơn ông Võ Tấn Đ.

+ Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018 cho nguyên đơn bà Trương Ánh N nuôi dưỡng, bị đơn Võ Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về quyền, nghĩa vụ về T sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các T liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống Đ hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Xét, giữa bà N và ông Đ chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ là hợp pháp. Bà N cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được, nên đã ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do, ông Đ không đến phiên tòa, thể hiện ông Đ đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà N yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018; xét cháu V và cháu T hiện do bà N nuôi dưỡng, các cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, hiện các cháu còn nhỏ cần được sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ, cháu V có nguyện vọng được sống chung với bà N. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu V và cháu T sau khi ly hôn và tránh thay đổi môi trường sống của 02 cháu, Hội đồng xét xử giao cháu V và cháu T cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N chưa yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về quyền, nghĩa vụ về T sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Ánh N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn bà Trương Ánh N được ly hôn với bị đơn ông Võ Tấn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thúy V, sinh ngày 01/6/2015 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/9/2018 cho nguyên đơn bà Trương Ánh N nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

4. Về quyền, nghĩa vụ về T sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0007587 ngày 13/02/2023. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống Đ hợp lệ./.

Cỡ chữ