- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy N được ly hôn với ông Lý Q.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-6-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Phượng
Ông Nguyễn Thanh Rực
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như-Kiểm sát viên.
Ngày 29-6-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 56/2023/TLST- HNGĐ ngày 12-4-2023 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22-5-2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thùy N, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lý Q, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp S, xã L, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thùy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2013, bà Nvới ông Q sống chung với nhau, đến ngày 07-6-2018 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời kỳ hôn nhân ông bà chung sống hạnh phúc với nhau, nhưng đến tháng 06-2020 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn vì tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, vợ chồng ông bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, bà Nvà ông Q đã ly thân từ tháng 01-2023 cho đến nay. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Nyêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nvà ông Q có 02 người con chung là cháu Lý Trần Quỳnh N (nữ, sinh ngày 10-6-2014) và cháu Lý Thanh A (nam, sinh ngày 24-9-2018). Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Trần Thùy N trình bày là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là ông Lý Q đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Lý Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Xét thấy, ông Lý Q đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lý Q.
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thùy N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Lý Q có nơi cư trú tại xã L, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Đối với bị đơn là ông Lý Q sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Q nhưng ông không có kiến gì hay gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia phiên họp và phiên hòa giải nên điều này cho thấy bị đơn đã tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Khoản 2, Khoản 4 Điều 91; điểm a Khoản 1 Điều 92; Điều 93; Điều 95 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử công nhận những tình tiết, sự kiện và tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là có giá trị dùng làm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà N với ông Q kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 07-6-2018 tại UBND xã L, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và tại thời điểm kết hôn bà Nvà ông Q không vi phạm điều cấm kết hôn. Vì vậy, hôn nhân giữa bà N và ông Q là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong thời gian đầu chung sống, thì bà N và ông Q rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, ông bà đã ly thân khoảng từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Do đó, bà N và ông Q đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không sống chung với nhau như vợ chồng, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014.
Xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà N và ông Q đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.
. Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nvà ông Q có 02 người con chung là cháu Lý Trần Quỳnh N (nữ, sinh ngày 10-6-2014) và cháu Lý Thanh A (nam, sinh ngày 24-9-2018) hiện đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, do cháu N và cháu A đang do bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, các cháu đang sống ổn định và phát triển về mọi mặt, được đảm bảo việc học hành. Mặt khác, tại biên bản ghi ý kiến ngày 05-5-2023 thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ và cũng không yêu cầu ông Q cấp dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cho cháu N và cháu A cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) nhằm ổn định sự phát triển về mọi mặt của các cháu cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu N. Ngoài ra, do bà N đã có công việc ổn định, có đủ khả năng để nuôi dưỡng các con chung và tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông Lý Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thùy N tự trình bày là không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bà Trần Thùy N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về trình tự tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy N được ly hôn với ông Lý Q.
2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Lý Trần Quỳnh N (nữ, sinh ngày 10-6-2014) và cháu Lý Thanh A (nam, sinh ngày 24-9-2018) cho bà Trần Thùy Ntrực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình. Ông Lý Q không cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lý Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thùy Ntự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Trần Thùy N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006982 ngày 12-4-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên bà Trần Thùy Nđã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện P; - UBND xã L, huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |