vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ là vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Huỳnh Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 30/06/2023.
“V/v tranh chấp xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Đến

2. Ông Lâm Thái Hiệp

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Quy – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 06 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 36/2023/TLST – HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 07 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp NL, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1972

Địa chỉ: ấp NL, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị T và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và tại bảng tự khai ngày 08/02/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Vào khoảng năm 1993, chị T và anh Đ có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Đ không quan tâm, lo lắng cho gia đình và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng nửa năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị T xác định trong thời gian chung sống, giữa chị T và anh Đ có 02 người con chung là cháu Huỳnh Thị Nhí, sinh năm 1994 và cháu Huỳnh Văn Khôi, sinh năm 2001. Hiện tại cháu Nhí và cháu Khôi đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu giải quyết;

Về tài sản chung: Chị T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/02/2023, bị đơn anh Huỳnh Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Vào khoảng năm 1993, anh Đ và chị T có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng nửa năm nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Đ thì anh Đ không đồng ý bời vì anh còn thương vợ, anh muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Anh Đ xác định trong thời gian chung sống, giữa anh và chị T có 02 người con chung là cháu Huỳnh Thị Nhí, sinh năm 1994 và cháu Huỳnh Văn Khôi, sinh năm 2001. Hiện tại cháu Nhí và cháu Khôi đã trưởng thành nên anh Đ không yêu cầu giải quyết;

Về tài sản chung: Anh Đ xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ là vợ chồng;

2. Về quan hệ con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết;

3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ nên căn cứ khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Văn Đ có nơi đăng ký thường trú tại ấp NL, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị T và anh Đ.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu xin ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T và anh Đ thừa nhận vào khoảng năm 1993, chị T và anh Đ có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh chị chưa có đăng ký kết hôn. Nay chị T xin ly hôn với anh Đ thì anh Đ không đồng ý. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ là vợ chồng.

[2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ xác định trong quá trình chung sống giữa chị T và anh Đ có 02 người con chung là cháu Huỳnh Thị Nhí, sinh năm 1994 và cháu Huỳnh Văn Khôi, sinh năm 2001. Chị T và anh Đ xác định do cháu Nhí và cháu Khôi đã lớn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về quan hệ tài sản chung: Chị T và anh Đ xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu số tiền 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ là vợ chồng.

2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết;

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết;

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006707, ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bạc Liêu;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Hồng Dân;

- Chi cục THADS huyện Hồng Dân;

- Đương sự.

- Lưu hồ sơ.

(Đã ký)

Nguyễn Văn Kiệt CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ