- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Hữu B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ.
Ông Phạm Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 1988; địa chỉ hộ khẩu thường trú: ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: Trại giam T1 (Cục C Bộ C1), xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11-5-2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Chị Nguyễn Thị Mỹ H chung sống với anh Nguyễn Hữu B từ năm 2006, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B (nay là B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01, ngày 26-6-2006. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm với nhau trong vấn đề tình cảm, vợ chồng thường xuyên cải vả, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, vợ chồng chị H, anh B đã ly thân từ 2019.
Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Hữu Thành T, sinh ngày 14/11/2007 và Nguyễn Hữu Thành Đ, sinh ngày 09/5/2015, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 6 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Hữu B trình bày:
Anh Nguyễn Hữu B đang chấp hành án tại Trại giam T1, anh B thống nhất với lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, con chung, nguyên nhân mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ 2019.
Nay, trước yêu cầu xin ly hôn của anh chị H thì anh B đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: anh B đồng ý giao các cháu Nguyễn Hữu Thành T, sinh ngày 14/11/2007 và Nguyễn Hữu Thành Đ, sinh ngày 09/5/2015 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: các đương sự vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 95 đến Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 63, 239, 243, 249, 258, 260 Bộ luật Tố tụng dân sự, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 51, 237 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: trong quá trình chung sống vợ chồng chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Hữu B đã có phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn là anh Nguyễn Hữu B có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H chung sống với anh Nguyễn Hữu B từ năm 2006, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01, ngày 26-6-2006. Sau thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vấn đề tình cảm, kinh tế, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc (theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 05-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương), vợ chồng chị H và anh B đã ly thân, anh B đồng ý ly hôn với chị H. Do đó, có cơ sở xác định: chị H và anh B không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không còn cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị H yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị H và anh B có hai con chung là các cháu Nguyễn Hữu Thành T, sinh ngày 14/11/2007 và Nguyễn Hữu Thành Đ, sinh ngày 09/5/2015. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Hữu Thành T và Nguyễn Hữu Thành Đ, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Các cháu T và cháu Đ đều có nguyện vọng được chị H tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh B đồng ý giao các cháu T và cháu Đ cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng cho con. Xét chị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên Hội đồng xét xử sẽ giao các cháu Nguyễn Hữu Thành T, sinh ngày 14/11/2007 và Nguyễn Hữu Thành Đ, sinh ngày 09/5/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: nguyên đơn chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Hữu B.
- Về con chung: Giao con chung là các cháu Nguyễn Hữu Thành T, sinh ngày 14/11/2007 và Nguyễn Hữu Thành Đ, sinh ngày 09/5/2015 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu anh anh Nguyễn Hữu B phải cấp dưỡng cho con.
Người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Mỹ H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010272 ngày 06-6-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bàu Bàng; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng |