vanban.org

Bản án 42/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn K và Đào Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái

phép chất ma tuý”. Xử phạt: Đào Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn K CĐB - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn K và Đào Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HSST
Ngày: 29-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Dung và ông Thái Quang Định.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Văn K, tên gọi khác: không có; sinh ngày 18/02/1991, tại N, Hải Dương. Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn Ng, sinh năm 1960 và bà Hà Thị Th, sinh năm 1958; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử án vắng mặt).

2. Họ và tên: Đào Văn Q, tên gọi khác: không có; sinh ngày 03/11/1988, tại N, Hải Dương. Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn Đ, sinh năm 1963 và bà Hà Thị G, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1991 và có 01 con, sinh năm 2010; tiền án Chưa có; tiền sự: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, thời gian 24 tháng. Ngày 18/3/2021 chấp hành xong trở về địa phương; bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử án vắng mặt).

*Những người chứng kiến:

1. Ông Trần Trọng Ng, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Tổ 4, khu C, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2. Ông Hoàng Văn H, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ 6, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 11/01/2022, Đào Văn K nảy sinh ý định sử dụng ma túy, loại Heroine nên đã rủ Đoàn Văn Q đi Hải Phòng mua ma túy về cùng nhau sử dụng, Q đồng ý. K điều khiển xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 17N3 – 3545 chở Q từ Uông Bí sang Hải Phòng rồi cầm cố chiếc xe được 6.000.000 đồng. K đưa cho Q 1.000.000 đồng để mua ma túy. Q cầm tiền đi mua ma túy còn K đi chuộc 02 chiếc điện thoại đã cầm cố trước đó, sau đó cả hai gặp nhau tại một ngõ nhỏ thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Q đi bộ vào trong ngõ để mua ma túy còn K đứng đợi ở đầu ngõ. Q gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 1.000.000 đồng ma túy, người này đồng ý nhận tiền của Q rồi dẫn Q đến trước một ngôi nhà và gọi cổng thì có người phụ nữ đưa cho người đàn ông này 03 túi nilon màu đỏ chứa ma túy, người này đưa lại cho Q rồi bỏ đi. Sau đó Q đi ra đầu ngõ gặp và đưa cho K 03 túi ma túy vừa mua được, K lấy một ít ma túy trong một túi ra để sử dụng rồi vứt túi nilon đi, phần còn lại gói vào mảnh giấy trắng có dòng kẻ. Sau khi sử dụng xong, K cất gói giấy chứa ma túy và 02 túi nilon ma túy ban đầu vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất giấu vào túi áo khoác phía trước bên trái K đang mặc, rồi cùng Q bắt xe Khách về Uông Bí. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 12/01/2022 khi đi đến cây xăng thuộc tổ 10, khu N, phường N, thành phố U. K và Q xuống xe đi bộ về nhà thì bị Công an phường N kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ số ma túy mà K cất giấu trong túi áo khoác đang mặc. Ngoài ra Công an còn tạm giữ của K 01 điện thoại di động hiệu OPPO lắp sim số 0349.203.999; 01 điện thoại hiệu iPhone và số tiền 2.200.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 95/KLGĐ ngày 18/01/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Đào Văn Q và Đào Văn K gửi giám định là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng 0,761 gam.

Tại Cơ quan điều tra Đào Văn K và Đào Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Cáo trạng số: 39/CT- VKSUB ngày 05/4/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố các bị cáo Đào Văn K và Đào Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên Q định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Văn K từ 15 đến 18 tháng tù, bị cáo Đào Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ 12/01/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Cả hai bị cáo là những người không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên đề nghị HĐXX không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 254/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn; trả lại bị cáo Đào Văn K 01 điện thoại OPPO gắn sim số 0349.203.999 và 01 điện thoại iPhone không gắn sim.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, Q định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường N, thành phố U lập hồi 00 giờ 30 phút ngày 12/01/2022, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 12/01/2022, tại tổ 10, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Đào Văn K và Đào Văn Q là những người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,761 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là những người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì đua đòi nhằm thỏa mãn cơn nghiện, không vượt qua được sự cám dỗ của ma túy, thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

* Xét vai trò và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, các bị cáo phạm tội do bột phát nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. K là người rủ rê Q đi Hải Phòng và cầm cố xe mô tô để lấy tiền mua ma túy, nên vai trò của K cao hơn, còn Q là người trực tiếp đi mua ma túy và có nhân thân xấu (đã có 01 tiền sự). Vì vậy K và Q phải có mức hình phạt ngang bằng nhau.

*Tình tiết tăng nặng: Không có

*Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét cả 02 bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối các với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Số ma túy Heroine, thu giữ của các bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại OPPO gắn sim số 0349.203.999 và 01 điện thoại iPhone không có sim là tài sản của bị cáo K không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 2.200.000 đồng thu giữ của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã giao lại cho anh Đào Văn T (anh trai của bị cáo K quản lý), nên không đề cập.

Những tình tiết khác trong vụ án: Đối với người đàn ông và người phụ nữ bán ma túy cho K và Q không rõ lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn K và Đào Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái

phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đào Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/01/2022.

Xử phạt: Đào Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/01/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 254/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn; trả lại bị cáo Đào Văn K 01 điện thoại OPPO gắn sim số 0349.203.999 và 01 điện thoại iPhone không gắn sim.

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đào Văn K và Đào Văn Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ