- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Xuân D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày: 19-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Lộc
2. Bà Trần Thị Kim Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 19/4/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/HSST ngày 02//3/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 05/4/2022 đối với bị cáo:
Đặng Xuân D, sinh năm 1992 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp Trảng Táo, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con Đặng Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; gia đình bị cáo có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; có vợ là Bùi Thị Thu T, sinh năm 1994, có 02 con lớn nhất sinh năm 2016 nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2021 cho đến nay. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp Trảng Táo,xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
- Người chứng kiến: Ông Trương Trần Thiên Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp 6, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 ngày 18/11/2021, Công an xã Xuân Tâm thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát tại các tuyến trên địa bàn, khi đi đến ấp 2, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, thì phát hiện Đặng Xuân D đang đứng lề đường có biểu hiện nghi vấn, nên tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, p hát hiện trong túi quần Jean phía trước, bên trái D đang mặc có một gói giấy bạc bên trong có 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín, kích thước 2,5x0,5cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, D khai là ma túy Heroin và ma túy tổng hợp (ma túy đá), mục đích tàng trữ để sử dụng. Công an xã Xuân Tâm đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Xuân D và niêm p hong tang vật nghi là ma túy theo quy định, sau đó bàn giao đối tượng cùng tang vật cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Xuân Lộc để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Đặng Xuân D là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 07 giờ ngày 18/11/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D điều khiển xe mô tô Honda hiệu Vision màu đen, biển số 60H5-105.98 đến khu vực nghĩa địa xã Xuân Hiệp gặp người đàn ông tên “Búa” (không rõ nhân thân lai lịch) mua được 06 (sáu) tép ma túy để trong 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín, kích thước 2,5x0,5cm, trong đó có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp (ma túy đá) và 05 (năm) đoạn ống nhựa màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroin với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau khi có ma túy, D đem ma túy vào khu vực nghĩa địa lấy ra một ít ma túy heroin trong một tép để sử dụng, rồi hàn kín lại tép ma túy heroin. D cất giấu 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng vào trong cùng một tờ giấy bạc rồi cuộn lại, sau đó cất giấu trong túi quần Jean, bên trái phía trước D đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, D đang đứng bên lề đường ở ấp 2, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai để đợi bạn thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên.
* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:
- 06 (sáu)đoạn ống nhựa màu trắng kích thước 2,5 x 0,5cm, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng tạmgiữ của Đặng Xuân D,D khai là ma túy Heroin và ma túy tổng hợp,đã niêmphong kí hiệu (M).Bên trong phong bì niêmphong có 01 (một)đoạn ống nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M-1) và 05 (năm) đoạn ống nhựa hàn kín,đều chứa chấtbột màu trắng (kí hiệu M-2).(bút lục số 27,30, 31).
- 01 (một) xe mô tô Honda hiệu Vision màu đen, biển số 60H5-105.98. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên do chị Bùi Thị Thu T (vợ Đặng Xuân D), sinh năm 1994, trú ấp Trảng Táo, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai làm chủ sở hữu. Ngày 18/11/2021, Đặng Xuân D mượn xe mô tô trên của chị Thủy đi công việc, sau đó thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chị Thủy không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị Thủy (bút lục số 57).
* Tại kết luận giám định số 2221/KLGĐ-PC09 ngày 25/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M-1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0903gam, loại: Methampetamine.
- Mẫu chất bột màu trắng (kí hiệu M-2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4005gam, loại: Heroine (Heroin).
Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: M-1=0,0592gam, M-2=0,3536gam(Bút lục số 28).
Tại phiên tòa,đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-LK ngày 28/02/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Đặng Xuân D từ 01 (một) năm 02 (Hai) tháng đến 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng của vụ án và án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa,bị cáo đã khai nhận hành vi phạmtội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình p hạt. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin giảm nhẹ hình phạt để trở về với gia đình và xã hội, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại p hiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào lúc 22 giờ 00 phút, tại ấp 2, xã Xuân Tâm,huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Công an xã Xuân Tâm phát hiện, bắt quả tang Đặng Xuân D có hành vi cất giấu 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín, kích thước 2,5x0,5cm, chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M-1) và 05 (năm) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín, kích thước 2,5x0,5cm, chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M-2), D khai là ma túy heroin và ma túy tổng hợp,mục đích tàng trữ để sử dụng. Kết quả giám định: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M-1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0903gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng (ký hiệu M-2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4005gam, loại Heroine (Heroin). Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đặng Xuân D phạmtội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như kết luận của Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạmđến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạmtrực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng là tác nhân gây ra sự nghiện ngập, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, khả năng lao động của người sử dụng nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Mục đích bị cáo mua chất ma túy về cất giấu để sử dụng. Số ma túy thu giữ ngày 18/11/2021 được giám định và theo kết luận giám định số 2221/KLGĐ-PC09 ngày 25/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: -Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M-1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0903gam, loại: Methampetamine; Mẫu chất bột màu trắng (kí hiệu M-2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4005gam,loại: Heroine (Heroin). Vì vậy, bị cáo bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình p hạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ tình tiết liên quan đến vụ án; đã ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội nên cần xử bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình p hạt bổ sung, phạt tiền bị cáo để sung quỹ Nhà nước theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về vật chứng vụ án: 01 (Một) gói niêm phong số 2221/LKGĐ-PC09 ngày 25/11/2021, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 (Một) xe mô tô Honda hiệu Vision màu đen, biển số 60H5-105.98.Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên do chị Bùi Thị Thu T (vợ Đặng Xuân D). Ngày 18/11/2021, Đặng Xuân D mượn xe mô tô trên của chị Thủy đi công việc, sau đó thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chị T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị Thủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên tên Búa mà Đặng Xuân D khai đã bán ma túy cho D, do không xác định được nhân thân,lai lịch cụ thể nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án p hí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đề xuất về hình phạt đối với bị cáo có p hần p hù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân D - 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong số 2221/LKGĐ-PC09 ngày 25/11/2021, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2022).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Xuân D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - CQCSĐT Công an huyện Xuân Lộc; - CQ THAHS Công an huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |