vanban.org

Bản án 42/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HSST
Ngày 28/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chuyên;

2. Bà Phan Thị Thu Trà;

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Đức Tuấn - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Phú

Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia

phiên toà: Ông Lƣơng Dƣơng Tùng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại hội trƣờng Ủy ban nhân dân xã Phấn Mễ, huyện

Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

38/2022/HSST ngày 16/5/2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số:

44/2022/QĐXXST-HS, ngày 13/6/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1974.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm S, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 08/12.

Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Nguyễn Kim L (đã chết) và bà Nông Thị P (sinh năm 1931).

Gia đình bị cáo có 09 (chín) anh, chị em. Bị cáo là con thứ chín.

Vợ: Đỗ Thị V, sinh năm 1991; có 02 con. Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ

sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2022 đến nay, hiện đang tạm

giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lƣơng.

(Có mặt tại phiên toà).

Người chứng kiến: Anh Đào Văn C1 - Sinh năm 1985;

Trú tại: Xóm 9, xã C2, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Ông Lê Văn B – sinh năm 1973; Trú tại: Xóm V, xã C3, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 11 giờ 10 phút ngày 23/01/2022, Công an xã C2, huyện Phú Lƣơng, làm

nhiệm vụ tại Xóm 9, xã C2, huyện P, phát hiện Nguyễn Văn C, có biểu hiện nghi liên quan đến ma tuý, nên yêu cầu kiểm tra. Thu giữ 01 gói chất bột màu trắng, nghi là ma tuý, dƣới nền bê tông ngay sát vị trí C đang đứng, cách bàn chân trái của C khoảng 20cm (C khai là ma tuý loại Heroine của C mua để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang đối với C. Số chất bột màu trắng đƣợc niêm phong theo quy định (ký hiệu A1), tạm giữ 01 xe mô tô BKS 20L1 0047, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Chín, số thuê bao 0986319716. Công an xã C2 đã chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu đến cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lƣơng để điều tra, giải quyết theo quy định.

Khám xét khẩn cấp nhà ở của C, không thu giữ gì có liên quan.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của

Nguyễn Văn C có tổng khối lƣợng là 0,252 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A3).

Tại bản Kết luận giám định chất ma tuý số 317/KL-KTHS ngày 28/01/2022

của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma tuý; loại: Heroine; có khối lƣợng: 0,252 gam.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Bản thân C là ngƣời nghiện ma túy.

Khoảng 10 giờ ngày 23/01/2022, C điều khiển xe mô tô BKS 20L1-0047, từ nhà đi đến khu vực xóm 9, xã C2 để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, C hỏi mua của một ngƣời nam giới khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma tuý, loại Heroine giá 200.000đ, C cất vào túi quần bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng. Mua ma tuý xong C gọi điện thoại cho Lê Văn B- SN 1973 trú tại Xóm V, xã C3, TP T, hẹn gặp để đi đòi nợ tiền công C và B đã làm thuê. Khi C và B đang đứng ở khu vực xóm 9, xã C2 thì bị Công an xã C2 phát hiện và thu giữ vật chứng là 01 gói nhỏ Heroine có trọng lƣợng là 0,252 gam. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo 01 xe mô tô BKS

20L1-0047 bị cáo mƣợn của anh Đào Xuân Tr, SN 1972, trú tại xóm Th, xã A, huyện

Đ và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lƣơng đã làm

rõ về nguồn gốc chiếc xe mô tô BKS 20L1-0047 và đã trả lại cho anh Đào Xuân Tr

quản lý và sử dụng.

Bản Cáo trạng số 43/CT-VKSPL ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội "Tàng trữ trái

phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện nhƣ bản Cáo

trạng đã truy tố.

Vị Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng

xét xử Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ

luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Nguyễn Văn C từ 24 đến 30 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/01/2022.

Không đề nghị áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố

tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 0,224 gam

mẫu A3 và vỏ bao gói mẫu A3 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký

hiệu A4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu

của Nguyễn Văn C.

- Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO vỏ mầu đen,

bên ngoài ốp vở mầu nâu, IMEL 1: 860354045031135, IMEL 2: 860354045031127,

bên trong máy có 01 sim điện thoại số 0986319716 đƣợc niêm phong trong phong bì

ký hiệu A2.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14,

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí

Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ

vào kết quả tranh lụân tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ,

ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú

Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:

Do bản thân bị cáo nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 23/01/2022, C điều

khiển xe mô tô BKS 20L1-0047 mƣợn của anh Đào Xuân Tr, SN 1972, trú tại xóm Th, xã A, huyện Đ, đi từ nhà đi đến khu vực xóm 9, xã C2 để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, C hỏi mua của một ngƣời nam giới khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma tuý, loại Heroine giá 200.000đ, C cất vào túi quần bên trái đang mặc và gọi điện thoại cho Lê Văn B- SN 1973 trú tại Xóm V, xã C3, TP Thái Nguyên, hẹn gặp để đi đòi nợ tiền công của C và B đã làm thuê. Khi C và B đang đứng ở khu vực Xóm 9, xã C2, huyện P thì bị Công an xã C2 phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nhỏ chất bột màu trắng đƣợc niêm phong theo quy định (ký hiệu A1), tạm giữ 01 xe mô tô BKS 20L1 0047, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của C, số thuê bao 0986319716.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lƣơng tiến hành

khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhƣng không thu giữ đƣợc gì.

Cân xác định trọng lƣợng số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C

khi bắt quả tang là 0,252 gam, đƣợc niêm phong lại ký hiệu A3.

Kết luận giám định số 317/KL-KTHS, ngày 28/01/2022 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng đƣợc niêm phong trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lƣợng là: 0,252 gam.

Hoàn lại đối tƣợng giám định theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận

lại đối tƣợng giám định là 0,224 gam đƣợc niêm phong lại ký hiệu A3.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất

ma túy", theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc .... trường hợp sau đây thì thì

phạt tù từ 01năm đến 05 năm.

…

c) Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;

Bản cáo trạng số 43/CT-VKSPL ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện

Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ra trƣớc Tòa án nhân dân huyện Phú Lƣơng,

tỉnh Thái Nguyên để xét xử là có căn cứ, phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo là ngƣời trƣởng thành, có đầy đủ

năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi

phạm pháp luật, nhƣng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là

nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nƣớc về quản lý các

chất gây nghiện, đi ngƣợc lại công cuộc đấu tranh phòng chống ma túy của toàn xã hội,

xâm phạm đến các điều cấm đƣợc Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải đƣợc xử lý

bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là

ngƣời nghiện ma túy. Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai

báo nên đƣợc hƣởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản

1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố của bị cáo đƣợc nhà nƣớc tặng thƣởng Huân

chƣơng kháng chiến hạng ba, vì đã có công trong thời kỳ kháng chiến. Do đó, bị cáo

đƣợc hƣởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều

51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của

vụ án và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Thấy

rằng, cần có hình phạt phù hợp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ

dài để giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội và giáo dục, phòng ngừa

chung.

Bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nếu áp

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo sẽ không có tính khả thi. Do vậy, Hội đồng xét

xử không áp hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo khai đã mua ma túy của một

ngƣời nam giới khoảng 40 tuổi không rõ nhân thân, lai lịch (Không biết tên, tuổi, địa

chỉ) tại khu vực xã C2, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên với giá 200.000đ (Hai trăm

nghìn) đồng. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau.

Về vật chứng:

- 01 chiếc xe mô tô BKS 20L1-0047 bị cáo đã mƣợn của anh Đào Xuân Tr để

sử dụng, anh trƣờng không biết bị cáo đã dùng xe mô tô BKS 20L1-0047 để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lƣơng đã trả lại cho anh Đào Xuân Tr để quản lý và sử dụng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

- 01(một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 0,224 gam mẫu A3 và vỏ

bao gói mẫu A3 hoàn trả sau giám định và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn C, không có giá trị sự dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO vỏ mầu đen, bên ngoài

ốp vở mầu nâu, IMEL 1: 860354045031135, IMEL 2: 860354045031127, bên trong máy có 01 sim điện thoại số 0986319716 đƣợc niêm phong trong phong bì ký hiệu A2. Bị cáo, không sử dụng làm công cụ, phƣơng tiên để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và

có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp

dụng, mức hình phạt từ đối với bị cáo, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần đƣợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời gian chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/01/2022.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án

(28/6/2022) để bảo đảm thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố

tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 0,224 gam

mẫu A3 và vỏ bao gói mẫu A3 hoàn trả sau giám định và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn C.

- Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO vỏ mầu đen,

bên ngoài ốp vở mầu nâu, IMEL 1: 860354045031135, IMEL 2: 860354045031127,

bên trong máy có 01 sim điện thoại số 0986319716 đƣợc niêm phong trong phong bì

ký hiệu A2, để bảo đảm thi hành án.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 17/5/2022

giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương).

3. Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội

quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Chuyên - Phan Thị thu Trà

Hoàng Văn Giang

Cỡ chữ