vanban.org

Bản án 42/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Giàng Thị S 1 (một) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, khấu trừ cho bị cáo 9 (chín) ngày tạm giữ. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42 /2022/HSST
Ngày 12 tháng 12 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Thắng và ông Sần Thó Suy;

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Sửu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2022/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022/HSST – QĐ ngày 10/11/2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 06/2022/TB-TA ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Thị S (tên gọi khác: không); Giới tính: Nữ. Sinh ngày 17/7/2002, nơi sinh huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn S, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện tại: thôn N, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai. Dân tộc: H’Mông. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 06/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Tiền án: không; Tiền sự: không. Con ông: Giàng A S và bà Tráng Thị Cầu. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Giàng A S, không đăng ký kết hôn, Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh ngày 13/11/2020.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/8/2022, đến ngày 19/8/2022 bị cáo được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Chinh – Trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Giàng A S.

Địa chỉ: thôn N, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 10/8/2022, tổ công tác Công an xã Tr làm nhiệm vụ tại thôn N, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện Giàng Thị S có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi thấy tổ công tác, Giàng Thị S lấy từ trong ví giả da màu đỏ đang đeo trên người ra 01 (một) gói nilon có mép miết (túi zip), bên trong có 23 (hai mươi ba) gói nilon gồm: 21 (hai mươi mốt) gói nilon màu hồng, 02 (hai) gói nilon màu vàng, bên trong cả 23 (hai mươi ba) gói nilon đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục và 200.000 (hai trăm nghìn) đồng gồm 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng giao nộp cho tổ công tác. Giàng Thị S khai nhận là hêrôin.

Ngày 12/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã tiến hành khám xét chỗ ở của Giàng Thị S, thu giữ 01 (một) chiếc dao lam kích thước 4,3cm x 2,2cm, trên hai mặt của chiếc dao lam có chữ LONDON BRIDGE SUPER STAINLESS.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 11/8/2022 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã xác định: 01 (một) gói nilon có mép miết (túi zip), một mặt có in chữ màu xanh, mặt ngoài có chữ NAM DƯỢC và nhiều dòng chữ khác, bên trong đựng: 23 (hai mươi ba) gói nilon gồm: 21 (hai mươi mốt) gói nilon màu hồng, 02 (hai) gói nilon màu vàng, bên trong cả 23 (hai mươi ba) gói nilon đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục. Tổng khối lượng của số chất bột khô, màu trắng, vón cục trong 23 (hai mươi ba) gói này là: 1,78 (một phẩy bảy mươi tám) gam, tiến hành trích mẫu 0,17 (không phẩy mười bảy) gam để giám định, còn lại 1,61 (một phẩy sáu mươi mốt) gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Kết luận giám định về ma túy số 196/GĐMT ngày 16/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 1,78 (một phẩy bảy mươi tám) gam gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Quá trình điều tra, Giàng Thị S khai: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/7/2022, sau khi chơi ở chợ Mường Hum, Giàng A S (sinh năm 1997, trú tại: Thôn N, xã Tr huyện B, tỉnh Lào Cai) điều khiển xe mô tô kiểu dáng Win không có biển số chở Giàng Thị S đi về nhà. Khi đến đoạn đường tỉnh lộ 158 thuộc khu vực rừng già xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, có một người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 35 tuổi đứng ở ven đường vẫy tay ra hiệu vợ chồng Sùng dừng lại và hỏi có mua ma túy không. Lúc này Giàng A S dừng xe, Sùng nói có. Người phụ nữ đó nói 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được một phân ma túy và hỏi Sùng còn hai phân ma túy có lấy không, Sùng đồng ý mua. Lúc này, Giàng A S lấy 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đưa cho Sùng, Sùng cầm tiền và lấy thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng trong người, tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng đưa cho người phụ nữ. Người phụ nữ nhận tiền rồi đưa cho Giàng A S 01 (một) gói ma túy được gói bằng nilon màu đen, Giàng A S nhận gói ma túy cầm ở tay rồi điều khiển chở Giàng Thị S đi về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn tối xong, Giàng A S đưa gói ma túy mua được cho Giàng Thị S cất giữ. Sùng cầm gói ma túy mang ra nhà vệ sinh, dùng dao lam chia nhỏ ra rồi dùng gói nilon màu hồng và vàng gói lại được 25 (hai mươi lăm) gói. Sau đó, Giàng Thị S mang lên giường ngủ để thì Giàng A S nhìn thấy và hỏi xin Giàng Thị S một gói ma túy để sử dụng. Giàng Thị S đồng ý, đưa cho Giàng A S một gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng để sử dụng. Số ma túy còn lại Giàng Thị S lấy gói nilon màu trắng gói lại cất ở dưới gối đầu giường ngủ. Ngày 08/8/2022, Giàng A S tiếp tục hỏi xin, Giàng Thị S đồng ý đưa một gói ma túy cho Giàng A S sử dụng. Ngày 10/8/2022, Giàng Thị S lấy 23 (hai mươi ba) gói ma túy ở dưới gối trên giường ngủ cất vào túi giả da màu đỏ rồi đeo trên người, sau đó cùng Giàng A S đi câu cá đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì về đến nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Giàng Thị S đang đeo túi giả da màu đỏ, bên trong có 23 (hai mươi ba) gói ma túy đứng ở sân vườn thì bị tổ công tác Công an xã Trịnh Tường phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Lời khai ban đầu của Giàng Thị S khai mục đích mua ma túy về để bán lẻ kiếm lời, tuy nhiên sau đó Giàng Thị S thay đổi lời khai, khẳng định mục đích mua ma túy về để cho chồng là Giàng A S sử dụng dần, ban đầu do hoang mang, lo sợ nên bị cáo khai không chính xác.

Căn cứ lời khai của Giàng Thị S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã triệu tập Giàng A S để làm việc. Quá trình điều tra, Giàng A S khai không biết việc Giàng Thị S trao đổi mua bán ma túy với người phụ nữ dân tộc Dao gặp ở ven đường, không đưa tiền cho Giàng Thị S mua ma túy, không cầm ma túy và cũng không biết việc Giàng Thị S chia ma túy. Giàng A S khai nhận ngày 30/7/2022 có đưa Giàng Thị S đi Mường Hum chơi, trên đường về gặp người phụ nữ dân tộc Dao nhưng Giàng Thị S là người nói chuyện với người phụ nữ đó, nội dung trao đổi như nào Giàng A S không biết; từ ngày 30/7/2022 đến ngày 08/8/2022 Giàng Thị S hai lần đưa ma túy cho Giàng A S để Sinh sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã tiến hành đối chất giữa Giàng Thị S và Giàng A S nhưng Giàng Thị S và Giàng A S vẫn giữ nguyên lời khai, không thay đổi gì.

Bản cáo trạng số 33/CT - VKS ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Giàng Thị S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản Cáo trạng. Đối với những nội dung cần điều tra bổ sung theo quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2022/HSST – QĐ ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát đã có công văn số 325/CV-VKS ngày 24/10/2022 giữ nguyên Quyết định truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 1 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 2 (hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 1,61 (một phẩy sáu mươi mốt) gam Heroine còn lại sau giám định và 01 chiếc dao lam kích thước 4,3 cm X 2,2 cm, trên hai mặt của chiếc dao lam có chữ LONDON BRIDGE SUPER STAINLESS; 01 ví giả da màu đỏ, đã qua sử dụng;

Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A11, màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án;

Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 1 (một) năm đến 1 (một) năm 2 (hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị S thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.

Do chồng bị cáo là Giàng A S nghiện chất ma túy nên bị cáo đã mua của người phụ nữ không quen biết 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng được hai phân ma túy là Heroine vào ngày 30/7/2022. Bị cáo mang gói ma túy về nơi ở của mình và chia số ma túy trên thành 25 gói mục đích để chồng bị cáo sử dụng dần. Bị cáo đã đưa cho Giàng A S sử dụng hết 02 gói, còn lại 23 gói. Đến ngày 10/8/2022 Giàng Thị S đang để 23 gói trong túi giả da màu đỏ đeo bên người thì bị phát hiện. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 1,78 (một phẩy bảy mươi tám) gam Heroine.Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với người phụ nữ mà bị cáo mua ma túy tại khu rừng già tại xã Dền Sáng, do Giàng Thị S không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không chứng minh làm rõ được.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Giàng A S, do chỉ có duy nhất lời khai của Giàng A S, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Giàng A S, theo lời khai của Giàng Thị S là người đã góp tiền với Giàng Thị S để mua ma túy, trực tiếp cầm gói ma túy sau khi mua được về nhà, quá trình điều tra do chỉ có duy nhất lời khai của Giàng Thị S, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Giàng A S là đúng quy định của pháp luật.

Đối với lời khai của Giàng A S tại phiên tòa ngày 27/9/2022, Giàng A S khai buổi tối ngày 30/7/2022 Giàng Thị S mang ma túy lên giường ngủ để thì Giàng A S nhìn thấy và hỏi xin Giàng Thị S một gói ma túy để sử dụng. Giàng Thị S đồng ý, đưa cho Giàng A S một gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng để sử dụng. Số ma túy còn lại Giàng Thị S lấy gói nilon màu trắng gói lại cất ở dưới gối đầu giường ngủ. Ngày 08/8/2022, Giàng A S tiếp tục hỏi xin, Giàng Thị S đồng ý đưa một gói ma túy cho Giàng A S sử dụng. Về nội dung này Tòa án đã Trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2022/HSST – QĐ ngày 27/9/2022, Viện kiểm sát đã có công văn số 325/CV-VKS ngày 24/10/2022 giữ nguyên Quyết định truy tố như bản cáo trạng, trong quá trình trả hồ sơ tại biên bản ghi lời khai ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát thì Giàng A S đã thay đổi lời khai không thừa nhận Giàng Thị S đưa ma túy để Giàng A S sử dụng mà dùng để chữa bệnh cho lợn và gà, Giàng A S cũng không biết Giàng Thị S có ma túy. Như vậy không có căn cứ Giàng A S biết Giàng Thị S có ma túy, Viện kiểm sát không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử từ 1 (một) năm đến 1 (một) năm 2 (hai) tháng tù xét thấy là nhẹ, vì hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trên địa bàn xã Y Tý, tệ nạn sử dụng ma túy ngày càng tăng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần có mức án nghiêm khắc với bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng:

Đối với 9.200.000 (chín triệu hai trăm nghìn) đồng tạm giữ của Giàng Thị S (bao gồm cả 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tạm giữ khi bắt quả tang Sùng), theo lời khai của Giàng Thị S đây là tiền chung của gia đình dùng để chi tiêu sinh hoạt gia đình, không dùng vào việc mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, lấy lời khai những người liên quan xác định lời khai của Giàng Thị S là có căn cứ nên đã trả lại cho Giàng Thị S và Giàng A S số tiền 9.200.000 (chín triệu hai trăm nghìn) đồng là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A11 màu xanh, đã qua sử dụng, quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ đây là tài sản của Giàng Thị S, Sùng không sử dụng vào việc trao đổi mua bán ma túy nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 1,61 (một phẩy sáu mươi mốt) gam hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định; 01 (một) chiếc dao lam kích thước 4,3cm x 2,2cm, trên hai mặt của chiếc dao lam có chữ LONDON BRIDGE SUPER STAINLESS; 01 (một) ví giả da màu đỏ, đã qua sử dụng đều là vật chứng của vụ án. Tại phiên tòa bị cáo xác nhận chiếc ví giả da không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 1,61 (một phẩy sáu mươi mốt) gam Heroine còn lại sau giám định và 01 chiếc dao lam kích thước 4,3 cm X 2,2 cm, trên hai mặt của chiếc dao lam có chữ LONDON BRIDGE SUPER STAINLESS; 01 ví giả da màu đỏ, đã qua sử dụng; Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A11, màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án;

Về hình phạt bổ sung: Điều luật quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử phạt bị cáo Giàng Thị S 1 (một) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, khấu trừ cho bị cáo 9 (chín) ngày tạm giữ.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 1,61 (một phẩy sáu mươi mốt) gam Heroine còn lại sau giám định, túi ni lon màu trắng, các mảnh nilon màu hồng, các mảnh nilon màu vàng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được đựng trong 01 bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị S ngày 10/8/2022 tại thôn Nà Lặc, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”.

- 01 chiếc dao lam kích thước 4,3 cm X 2,2 cm, trên hai mặt của chiếc dao lam có chữ LONDON BRIDGE SUPER STAINLESS;

- 01 ví giả da màu đỏ, đã qua sử dụng;

Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A11, màu xanh, máy cũ, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án;

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ