- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức P phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P (tên gọi khác, Cu lỳ) phạm vào “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK TỈNH ĐN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày 21 – 4 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK TỈNH ĐN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Lê Ngọc Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Vũ Văn Thăng
2/ Bà Chu Hạ Uyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh ĐN .
- Đại diện VKS nhân dân thành phố LK, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21/4/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh ĐN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2022/HSST ngày 03/3/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST-HS ngày 06/4/2022 đối với bị cáo:
NGUYỄN ĐỨC P (tên gọi khác, Cu lỳ), sinh năm 2000, tại ĐN ; nơi cư trú: Ấp 1, xã Bình Lộc, thành phố LK, tỉnh ĐN ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1959; tiền án: không, tiền sự: Ngày 06/5/2021, bị Công an xã Bình Lộc, thành phố LK, tỉnh ĐN xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nộp phạt ngày 10/6/2021. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Trường V, sinh ngày 05/4/2004. Địa chỉ: Ấp Nông Doanh, xã Xuân Định, huyện XL, tỉnh ĐN , có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị Hải V, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp Nông Doanh, xã Xuân Định, huyện XL, tỉnh ĐN , vắng mặt không có lý do.
2. Anh Đặng Hoàng N, sinh năm 1994. Địa chỉ: 16 Nguyễn Văn Cừ, phường Xuân An, thành phố LK, tỉnh ĐN , vắng mặt không có lý do.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp 1, xã Bình Lộc, thành phố LK, tỉnh ĐN , có mặt.
2. Anh Lê Đình M, sinh năm 1995. Địa chỉ: 134 Trần Phú, phường Xuân An, thành phố LK, tỉnh ĐN , vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức P là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Nguyễn Đức P và Nguyễn Trường V có mối quan hệ quen biết từ trước.
Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 13/05/2021, Nguyễn Trường V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển số 60H5 – 168.06 đến nhà Nguyễn Đức P ở ấp 1, xã Bình Lộc, thành phố LK đòi lại số tiền 1.000.000 đồng. Tại đây, Nguyễn Đức P mượn xe của Nguyễn Trường V đi mua nước khoảng 10 phút thì về. Đến khoảng 12 giờ 45 phút, Nguyễn Trường V ra phía sau nhà Nguyễn Đức P nằm chơi và ngủ quên, khi nằm ngủ Nguyễn Trường V để chìa khóa xe ở bàn cạnh chỗ ngủ.
Đến khoảng 14 giờ 45 phút, Nguyễn Trường V tỉnh dậy thì không thấy xe đâu, được ba của Nguyễn Đức P là ông Nguyễn Đức T nói lại là Nguyễn Đức P đã lấy xe đi. Nguyễn Trường V nhiều lần gọi điện thoại nhưng Nguyễn Đức P không đem xe về. Đến ngày 14/05/2021, do không lấy lại được xe nên Nguyễn Trường V đến Công an xã Bình Lộc, thành phố LK trình báo. Đến trưa ngày 19/5/2021, Nguyễn Đức P đến Công an xã Bình Lộc đầu thú về hành vi mượn xe của Nguyễn Trường V rồi tự ý đem đi cầm tại Cơ sở cầm đồ Bảo Long, địa chỉ: 134 Trần Phú, phường Xuân An, thành phố LK do anh Đặng Hoàng N làm chủ với số tiền 8.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức P khai nhận có hỏi mượn xe của Nguyễn Trường V để đi công việc cá nhân và được Nguyễn Trường V đồng ý. Quá trình mượn xe, thấy giấy tờ đăng ký xe để sẵn trong cốp xe, do đang thiếu tiền nên Nguyễn Đức P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy bằng cách mang đi cầm để lấy tiền tiêu xài.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 24/05/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LK kết luận: “Một chiếc xe môtô gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, biển số 60H5- 168.06 đã qua sử dụng (thời điểm 13/05/2021) giá trị còn lại 11.000.000 đồng”.
Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án khai nhận như Cáo trạng mô tả.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LK thu giữ 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 60H5-168.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 092284 do Công an huyện XL cấp ngày 01/12/2020 đứng tên chị Vũ Thị Hải V; 01 chứng minh nhân dân số 272790900 tên Nguyễn Đức P.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh ĐN giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 18/CT-VKSLK ngày 18/02/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức P từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù. Buộc bị cáo bồi thường theo luật định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 13 giờ ngày 13 tháng 5 năm 2021, tại ấp 1, xã Bình Lộc, thành phố LK, tỉnh ĐN , Nguyễn Đức P mượn xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 60H5- 168.06 của Nguyễn Trường V có giá trị 11.000.000 đồng đi công việc, sau đó mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đức P phạm vào “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo đã thực hiện hành vi lạm dụng chiếm đoạt tài sản có giá trị là 11.000.000 đồng. Bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử ở khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phát hiện vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ tình tiết liên quan đến vụ án; đầu thú; đã ăn năn hối cải thể hiện sự ray rứt về việc làm sai trái; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội nên cần xử bị cáo ở mức khởi điểm và cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo để sung quỹ Nhà nước theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LK tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm về hành vi bị cáo chiếm đoạt tài sản trong hai vụ việc khác. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định bắt tạm giam bị cáo tại phiên tòa sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LK thu giữ 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 60H5- 168.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 092284 do Công an huyện XL, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/12/2020 đứng tên chị Vũ Thị Hải V; 01 chứng minh nhân dân số 272790900 tên Nguyễn Đức P.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LK đã trả lại cho chủ sở hữu không có lỗi. Các đương sự không có yêu cầu thêm nên không xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, anh Đặng Hoàng N yêu cầu bồi thường 8.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 5.000.000 đồng. Anh Đặng Hoàng N tiếp tục yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, anh Nguyễn Trường V yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là ý chí tự nguyện của bị cáo nên ghi nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P (tên gọi khác, Cu lỳ) phạm vào “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2022.
Ra lệnh bắt tạm giam bị cáo tại phiên tòa sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải bồi thường cho anh Đặng Hoàng N 3.000.000 đồng, anh Nguyễn Trường V 1.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐN ; - VKSND tỉnh ĐN ; - VKSND TP. LK; - Sở Tư pháp tỉnh ĐN ; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. LK; - Nhà tạm giữ CATPLK; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Lê Ngọc Nhi |