vanban.org

Bản án 42/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

Xử phạt: NCH, 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 07 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NCH - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HS-ST
Ngày: 22-04-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đinh Kim Hoàng.

2/ Bà Võ Thanh Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4,

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2022/HSST-QĐ ngày 15 tháng 04 năm 2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2022 đối với:

- Bị cáo:

NCK; sinh năm 1997 tại BL; HKTT: Ấp TH 2, xã VH, huyện VL, tỉnh BL; nơi

cư trú: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: VN; con ông NVĐ và bà NKN; sống chung như vợ chồng với LPH và có 01 con chung sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh BL, Thành phố BL xử 06 tháng tù

về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 36/2016/HSST ngày 16/05/2016). Chấp hành xong bản án ngày 05/01/2017.

Bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2021 “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà LPH, sinh năm 1993 “vắng mặt”.

Địa chỉ: 7/4 K2, P1, TPTV, tỉnh TV.

2/ Bà TTP “vắng mặt”.

Địa chỉ: 84/16/1 Đường số 11, phường TT, Thành phố TĐ, TPHCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/7/2021,

NCH gọi điện thoại cho người đàn ông (không rõ lai lịch) chạy xe ôm ở khu vực đường BVĐ, Q4, TPHCM hỏi mua ma túy. Sau khi thỏa thuận, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, NCH điều khiển xe gắn máy biển số 54X8-9833 đến khu vực trạm xe buýt đường KH, Q4, TPHCM thì gặp người đàn ông chạy xe gắn máy hiệu Wave, màu xanh trắng (không rõ biển số). Tại đây, người đàn ông này kêu NCH đưa 320.000 đồng. Sau khi nhận tiền xong, người đàn ông này điều khiển xe gắn máy chạy đi một đoạn thì gọi điện thoại chỉ cho NCH chỗ cất giấu ma túy ở dưới gốc cây gần chỗ H đang đứng khoảng 02 mét. NCH đi bộ lại thì thấy dưới gốc cây có 01 gói nylon bên ngoài có dán băng keo màu đỏ đen bên trong có chứa ma túy đá. NCH dùng tay trái nhặt gói ma túy lên và cất giấu vào trong quai dép chân phải đang mang rồi đi bộ lại chỗ đậu xe gắn máy định tìm chỗ sử dụng ma túy thì nhận được điện thoại của một người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Lúc này, NCH nảy sinh ý định bán lại gói ma túy đá đã mua giá 320.000 đồng để hưởng lợi 180.000 đồng nên đồng ý và hẹn gặp tại khu vực Đường 16, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy. Nguyễn Chí Hiểu điều khiển xe gắn máy biển số 54X8-9833 đến trước số 21 Đường 16, Phường 04, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì gọi điện thoại lại cho người thanh niên nhưng không ai nghe máy nên Hiểu ngồi lên xe gắn máy để chờ. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 21/07/2021, NCH gặp lực lượng Công an Q4, TPHCM tuần tra khu vực. Do sợ bị phát hiện, NCH dùng chân phải đá hất gói ma túy đang cất giấu ở trong quai dép xuống mặt đường gầm xe gắn máy đang ngồi thì bị lực lượng Công an tiến hành thu giữ tang vật, đưa NCH về trụ sở Công an P04, Q4, TPHCM lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 3672/C09B ngày 06/08/2021 PVK học hình sự tại

TPHCM kết luận: Tinh thể không màu đựng trong 01 gói nylon được quấn băng keo màu đỏ-đen được niêm phong, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,4504 gam (hai phẩy bốn năm không bốn gam).

Tại Cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 02/12/2021 của VKS nhân dân Q4,

TPHCM truy tố bị cáo NCH về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo NCH thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu, đồng ý với tội

danh mà VKS nhân dân Q4, TPHCM đã truy tố và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện VKS nhân dân Q4, TPHCM giữ nguyên quan điểm truy tố đối với

bị cáo NCH về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt: NCH từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên NCH bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) đôi dép màu đen có chữ PH Sports màu trắng, quai màu trắng gạch ngang màu đen hiệu Adidas; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, trả lại NCH số tiền 1.000.000 đồng; tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 54X8-9833, đã qua sử dụng, số khung: 038Y-766623, số máy: 18E-5374088.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q4, Điều tra

viên, Viện kiểm sát nhân dân Q4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra cung như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành

vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/07/2021, tại trước số 21 Đ16, P04, Q4, TPHCM, NCH có hành vi cất giấu 01 gói nylon có dán băng keo màu đỏ đen, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4504 gam loại Methamphetamine để bán lại cho người nghiện nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo NCH đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại

đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cung như phòng ngừa chung tội phạm trong xã hội.

Đối với người đàn ông chạy xe ôm ở khu vực đường BVĐ, Q4, TPHCM do

NCH khai đã bán ma túy tại trạm xe buýt đường KH, Q4, TPHCM và người thanh niên gọi điện thoại hỏi mua ma túy nhưng chưa kịp nhận ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an Q4, TPHCM đã tiến hành kiểm tra

điện thoại di động của TPHCM thu giữ 02 sim điện thoại có số thuê bao 0784363717 và 0775570455. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q4, TPHCM đã gửi văn bản xác minh đến Tổng Công ty Viễn thông Mobifone đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra Công an Quận 4, TPHCM đã lập Biên bản trích hồ sơ, vật chứng, chờ kết quả xác minh đối với hai số điện thoại 0784363717 và 0775570422 để tiếp tục xác minh, làm rõ. Khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Về nhân thân:

Bị cáo NCH không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã bị

Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2016. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Thu giữ của NCH 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên

NCH, VVH (điều tra viên) và hình dấu Công an P4, Q4, TPHCM, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Thu giữ của TPHCM 01 (một) điện thoại di động hiệu ITEL màu đỏ, đã qua

sử dụng. Xét, đây là công cụ do bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

- Thu giữ của NCH số tiền 1.000.000 đồng. Xét, đây là tài sản cá nhân của bị

cáo nên trả lại.

- Thu giữ củaNCH 01 (một) đôi dép màu đen có chữ PH Sports màu trắng,

quai màu trắng gạch ngang màu đen hiệu Adidas. Xét, đây là công cụ do bị cáo sử dụng để cất giấu ma túy bên trong quai dép và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Thu giữ của NCH 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số

54X8-9833 đã qua sử dụng, số khung: 038Y-766623, số máy: 18E-5374088. Tại Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an Q4, TPHCM thì xe gắn máy trên do bà TTP đứng tên chủ sở hữu. Tại Biên bản xác minh của Cơ quan điều tra Công an Q4, TPHCM thì bà TTP đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2015. Tại phiên tòa, bị cáo NCH khai nhận đã mượn xe gắn máy của bà LPH (là người chung sống như vợ chồng với bị cáo) để đi công việc rồi sau đó sử dụng xe gắn máy để thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Tại cơ quan điều tra, bà LPH khai nhận đã mua xe gắn máy biển số 54X8-9833 tại một cửa hàng bán xe cu ở Q8, TPHCM với giá 10.000.000 đồng vào tháng 06 năm 2021 nhưng bà không nhớ rõ tên và địa chỉ cửa hàng. Ngoài ra, việc mua bán xe không lập văn bản giấy tờ và cung không làm thủ tục trước bạ sang tên, chỉ có hóa đơn mua bán xe nhưng bà đã làm thất lạc nên không cung cấp được bất kỳ văn bản giấy tờ nào liên quan đến xe gắn máy nêu trên. Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra cung như tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Phượng Hằng không cung cấp được bất kỳ văn bản giấy tờ nào chứng minh cho lời trinh bày của mình cung như chứng minh được bà là chủ sở hữu xe gắn máy biển số 54X8-9833. Mặt khác, đây là phương tiện do bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội, đồng thời Cơ quan điều tra Công an Q4 đã đề nghị Ban biên tập Báo Công an TPHCM đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Q4, TPHCM tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 54X8-9833 đã qua sử dụng, số khung: 038Y-766623, số máy: 18E-5374088. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

Xử phạt: NCH, 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 07 năm 2021.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung

năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên

NCH, VVH (điều tra viên) và hình dấu Công an P4, Q4, TPHCM, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel

màu đỏ, đã qua sử dụng.

- Trả lại NCH số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng)

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép màu đen có chữ PH Sports màu trắng,

quai màu trắng gạch ngang màu đen hiệu Adidas.

- Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự Q4, TPHCM tiếp tục đăng báo tìm chủ

sở hữu đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 54X8-9833 đã qua sử dụng, số khung: 038Y-766623, số máy: 18E-5374088. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số

68 ngày 13/01/2022 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Q4, TPHCM và Giấy nộp tiền vào Ngân hàng TMCP CTVN ngày 16/11/2021).

3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2021; Luật phí và lệ phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2021:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm)

ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ