vanban.org

Bản án 42/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: một bì thư được niêm phong số 111/KL-KTHS, bên trong có chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và Trợ lý Hà Minh Lâm. Bên trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HS-ST
Ngày 04-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Cao Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Văn Thà;

Bà Trần Thị Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Thành L, sinh năm 1997, tại Tây Ninh; cư trú tại: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu P và bà Phạm Thị Ngọc A; bị cáo chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Trần Thị T; chưa có con; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HS-ST, ngày 23/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 23/4/2021, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2017/HS-ST, ngày 20/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong về hình phạt, thời điểm phạm tội chưa thành niên; bị bắt tạm giam từ ngày 31/3/2022 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thành L và Trần Thị Tr, sinh năm 1989, ngụ ấp ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh chung sống như vợ chồng. Cả hai ở giữ rẫy tại ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh của ông Trần Văn C, sinh năm 1982, ngụ ấp Thạnh Tân, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/01/2022, Vũ cùng Thư (không rõ nhân thân, lai lịch) mang ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến nơi Lộc và Trinh sinh sống để cùng nhau sử dụng. Số ma túy còn lại không sử dụng hết nên Vũ cho lại Lộc, Lộc cất giấu vào bên trong gói thuốc lá hiệu Jet giấu trong thùng mủ trong chòi giữ rẫy để sử dụng một mình. Khi Vũ cho Lộc ma túy thì Trinh đi làm đồ ăn nên không biết. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Công an xã Thạnh Bình kiểm tra phát hiện bên trong gói thuốc lá hiệu Jet giấu trong thùng mủ trong chòi giữ rẫy có 01 bịch nylon loại bóp miệng viền màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong ký hiệu M1.

Tại cơ quan điều tra, Lê Thành L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lê Thành L có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.

* Tại Kết luận giám định số 111/KL-KTHS ngày 22/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon loại bóp miệng có viền màu xanh (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2199 gam (còn lại sau giám định 0,1743 gam).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: thu của Lê Thành L 01 bịch nylon loại bóp miệng, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, chứa chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,2199 gam.

* Kết quả kê biên tài sản: bị cáo Lê Thành L không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

Đối với người tên Vũ và Thư có hành vi mang ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến cùng Lộc và Trinh sử dụng, do chưa xác định được họ và tên, địa chỉ nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được và có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Thị Tr do không biết Lê Thành L tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với Trần Văn C do không biết Lê Thành L và Trần Thị Tr sử dụng ma túy tại chòi giữ rẫy do mình quản lý nên Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh không xử lý là có căn cứ.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT -VKSTB ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thành L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo L. Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo Lê Thành L: thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận thêm.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo Lê Thành L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: vào lúc 19 giờ 30 phút, ngày 07/01/2022 tại chòi giữ rẫy của ông Trần Văn C ở ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Công an xã Thạnh Bình đã tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ của Lê Thành L 01 bịch nylon loại bóp miệng, bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,2199 gam, với mục đích để sử dụng. Hành vi của các bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 38/CT -VKSTB ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành L đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại có hành vi phạm tội nên cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: bị cáo Lê Thành L đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thành L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2017/HS-ST, ngày 20/02/2017 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt, thời điểm phạm tội bị cáo chưa thành niên nên không được coi là có án tích. Mặc dù không bị coi là có án tích nhưng bị cáo L vẫn bị coi là có nhân thân xấu.

Hình phạt áp dụng: xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa và để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo L đã bị áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn cũng đủ sức răn đe, hơn nữa bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: số lượng ma túy được hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,1743 gam cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo Lê Thành L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Lê Thành L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 31 tháng 3 năm 2022.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: một bì thư được niêm phong số 111/KL-KTHS, bên trong có chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và Trợ lý Hà Minh Lâm. Bên trong có chứa 01 bịch nylon loại bóp miệng chứa chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,1743 (không phẩy một bảy bốn ba) gam được hoàn lại sau khi giám định.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: bị cáo Lê Thành L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Lê Thành L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ